Tác động của cú sốc năng lượng đối với khu vực ĐA-TBD sẽ phụ thuộc vào mức độ phụ thuộc của từng quốc gia vào nhập khẩu năng lượng, các điểm dễ tổn thương và dư địa chính sách

Source: Minh họa Cán bộ Ngân hàng Thế giới
Tăng trưởng tại các nền kinh tế đang phát triển khu vực Đông Á – Thái Bình Dương (ĐA-TBD) vẫn duy trì ở mức trên trung bình toàn cầu, nhưng có xu hướng chậm lại trong năm 2026 và 2027. Tăng trưởng tại Trung Quốc—nền kinh tế lớn nhất khu vực—dự kiến sẽ giảm từ 5,0% năm 2025 xuống còn 4,2% năm 2026 và đạt mức 4,3% năm 2027. Các quốc gia còn lại trong khu vực cũng có khả năng ghi nhận tốc độ tăng trưởng giảm từ 4,9% năm 2025 xuống còn 4,1% năm 2026, trước khi phục hồi lên mức 5,0% vào năm 2027. Các quốc đảo Thái Bình Dương dự kiến sẽ tăng trưởng ở mức 2,8% vào năm 2026 và 3,0% vào năm 2027.

Source: Minh họa Cán bộ Ngân hàng Thế giới
Chính sách công nghiệp đang ngày càng được các nhà hoạch định chính sách xem như một công cụ để mở ra những lộ trình phát triển mới. Báo cáo đề xuất một cách tiếp cận đối với chính sách công nghiệp dựa trên ba trụ cột chính:
(1) Các chính sách nhằm tạo ra nhiều việc làm có năng suất cao hơn.
(2) Các chính sách nhằm thúc đẩy năng suất, mở rộng cơ hội kinh tế và củng cố khả năng chống chịu thông qua việc tận dụng những thay đổi về công nghệ, đẩy mạnh cải cách trong nước và tăng cường hợp tác quốc tế;
(3) Chính sách hỗ trợ thị trường lao động khai thác tiềm năng năng suất của các công nghệ số mới;
(4) Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng công nghệ mới và giúp thúc đẩy năng suất của các doanh nghiệp ĐA-TBD để bắt kịp các công ty dẫn đầu toàn cầu;
(5) Chính sách khai thác tiềm năng của ngành dịch vụ để thúc đẩy tăng trưởng toàn nền kinh tế và tạo việc làm;
(6) Chính sách ứng phó với những thách thức lớn của xu hướng phi toàn cầu hóa, già hóa dân số và biến đổi khí hậu;
(7) Chính sách giải quyết những méo mó mới và cũ trong các lĩnh vực thực phẩm, nhiên liệu và tài chính;
(8) Chính sách khuyến khích phổ biến và ứng dụng công nghệ;
(9) Tạo cơ hội cho doanh nghiệp và đảm bảo tính bao trùm để thúc đẩy tăng trưởng công bằng;
(10) Cải cách thương mại, đặc biệt là các ngành dịch vụ hiện vẫn thuộc phạm vi bảo hộ—tài chính, vận tải, truyền thông—để nâng cao năng suất của doanh nghiệp, tránh áp lực chuyển sang bảo hộ các ngành khác và trang bị kỹ năng để tận dụng các cơ hội kỹ thuật số đang xuất hiện ngày càng nhanh dưới tác động của đại dịch;
(11) Chính sách khu vực tài chính để hỗ trợ cứu trợ và phục hồi mà không làm suy yếu sự ổn định tài chính;
(12) Hỗ trợ doanh nghiệp không rơi vào phá sản và cắt giảm nhân sự, đồng thời không cản trở quá mức việc phân bổ lại hiệu quả lao động và nguồn lực;
(13) An sinh xã hội giúp các hộ gia đình ổn định tiêu dùng và người lao động tái hòa nhập trong quá trình các quốc gia phục hồi;
(14) Giáo dục thông minh để ngăn ngừa mất mát lâu dài về vốn con người, đặc biệt là đối với người nghèo;
(15) Kiểm soát thông minh COVID-19, đặc biệt là thông qua các biện pháp can thiệp không dùng thuốc như xét nghiệm-truy vết-cách ly;
(16) Chính sách khí hậu để tái thiết và phục hồi;
(17) Chính sách tài khóa để cứu trợ, phục hồi và phát triển;
(18) Triển khai tiêm chủng để ngăn chặn COVID-19.