PHÓNG SỰ

Tự chủ bệnh viện ở Việt Nam mang lại thay đổi tích cực và thách thức mới

5 Tháng 3 Năm 2012


Các nét chính của bài viết
  • Việt Nam đã thực hiện chính sách tự chủ bệnh viện trong khoảng 10 năm qua để thu hút thêm nhiều nguồn tài chính bổ sung cần thiết từ khu vực tư nhân và cá nhân.
  • Khảo sát với 18 bệnh viện công ở Việt Nam chỉ ra rằng chính sách tự chủ bệnh viện đã dẫn đến những kết quả tích cực lẫn hạn chế về hiệu quả, chất lượng và tính công bằng trong cung cấp dịch vụ.
  • Bài học từ cải cách bệnh viện trên toàn thế giới cung cấp cho Việt Nam các lựa chọn chính sách và tổ chức để quản lý rủi ro liên quan tới tự chủ bệnh viện.

Ngày 5 tháng 3 năm 2012 - Trong 30 năm qua, những cải cách về tổ chức và quản lý bệnh viện công đã diễn ra ở mọi khu vực trên thế giới. Cải cách diễn ra nhằm giải quyết một số vấn đề thường gặp ở bệnh viện công như hiệu quả hoạt động thấp, lãng phí, không thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng, “chảy máu chất xám” của các cán bộ có trình độ chuyển sang làm ở khu vực tư nhân, tài sản xuống cấp và không có khả năng phục vụ người nghèo.

Chính phủ Việt Nam đã trao quyền tự chủ cho các bệnh viện công như một phần trong quá trình mở rộng cải cách hành chính công với mục đích cải thiện kết quả hoạt động của các bệnh viện này cũng như giảm bớt gánh nặng đối với ngân sách nhà nước. Báo cáo mang tên "Phân tích việc thực hiện Chính sách tự chủ bệnh viện trên thế giới và thực tế ở Việt Nam" do Ngân hàng Thế giới phối hợp với Bộ Y tế thực hiện vừa công bố đã cho thấy các kết quả tích cực từ việc thực hiện tự chủ bệnh viện ở Việt Nam.

Đồng thời, báo cáo cũng phân tích những vấn đề tồn tại và đề xuất khuyến nghị để tối ưu hóa cải cách bệnh viện. Báo cáo phân tích dựa trên việc thực hiện chính sách tự chủ bệnh viện trên thế giới từ các nghiên cứu quốc tế và khảo sát tại 18 bệnh viện công của Bộ Y tế Việt Nam. Khảo sát được tiến hành tại cả các bệnh viện thực hiện tự chủ theo hình thức đảm bảo một phần hoặc toàn phần chi phí hoạt động thường xuyên, đã cố gắng chỉ ra sự thay đổi về kết quả hoạt động sau khi được trao quyền tự chủ (so sánh giữa năm 2005 và 2008).

Kết quả khảo sát cho thấy tổng nguồn thu của các bệnh viện các tuyến tăng nhanh; vốn đầu tư vào bệnh viện tăng lên; mở rộng các loại hình dịch vụ khám chữa bệnh và tăng công suất sử dụng bệnh viện; thu nhập của cán bộ y tế bệnh viện công đã tăng lên đáng kể; cũng như giảm chi phí và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực con người.

Tuy nhiên, khảo sát cũng cho thấy rằng những thay đổi tích cực này đã không diễn ra một cách đồng đều. Bệnh viện trung ương và bệnh viện ở các thành phố lớn được hưởng lợi nhiều hơn
Kết quả khảo sát cho thấy hiệu quả hoạt động có thể bị giảm đi và một số khía cạnh liên quan đến chất lượng khám chữa bệnh, chẳng hạn như việc dung chung giường bệnh, đã bị giảm đi.

Từ việc khảo sát đánh giá kinh nghiệm quốc tế và thực tế ở Việt Nam, báo cáo đề xuất các khuyến nghị sau nhằm tối ưu hóa cải cách bệnh viện:

• Các hoạt động ngắn hạn:
- Điều chỉnh phí dịch vụ của bảo hiểm y tế dựa trên các nghiên cứu về chi phí thực của các dịch vụ bệnh viện thiết yếu;
- Kiểm soát công suất sử dụng thông qua hợp đồng giúp hạn chế số lượng và tổng chi phí
- Đề ra những mục tiêu phúc lợi xã hội rõ ràng cho bệnh viện thay vì một mục tiêu là tăng tối đa nguồn thu hoặc tăng tối đa khoản chênh lệch thu chi;
- Áp dụng các quy chế tài chính công hiện hành để đảm bảo công bằng thu nhập cho các cán bộ bệnh viện ở tất cả các chuyên khoa. Điều này có thể phá vỡ mối liên hệ trực tiếp giữa nguồn thu ngoài ngân sách của bệnh viện hoặc nguồn thu thêm và thu nhập của từng cán bộ. Ở mỗi bệnh viện, cần phải có những quy định điều hành để đảm bảo nguồn thu công bằng và giảm chênh lệch giữa các khoa phòng.
- Tiến hành đánh giá năng lực hệ thống quản lý bệnh viện như là một tiêu chuẩn để nâng cao tính tự chủ của bệnh viện.
- Điều chỉnh các quy chế về huy động các nguồn tài chính và đầu tư tư nhân cho bệnh viện để tránh mâu thuẫn lợi ích, đảm bảo quá trình đấu thầu minh bạch và có các hướng dẫn cụ thể về thực hiện các dự án đầu tư cho bệnh viện.
- Phân biệt rõ ràng các dịch vụ tự chi trả theo nhu cầu và những dịch vụ thiết yếu do bảo hiểm xã hội chi trả.
- Có hệ thống kế toán riêng cho các đơn vị dịch vụ tư nhân theo yêu cầu trong bệnh viện, có chính sách không bao cấp cho những đơn vị này, đảm bảo tính đủ phí dịch vụ, bao gồm cả phí quản lý.

• Các hoạt động trung và dài hạn:
- Phát triển các hình thức chi trả trước và chi trả theo kết quả đầu ra cho việc thanh toán bảo hiểm y tế;
- Phát triển và khuyến khích áp dụng hướng dẫn điều trị lâm sàng chuẩn;
- Áp dụng việc đánh giá công nghệ y tế và có kế hoạch chiến lược đối với bệnh viện công và những trang thiết bị đắt tiền nhằm tránh đầu tư lãng phí và lạm dụng kỹ thuật;
- Củng cố các quy chế giám sát và thanh kiểm tra đối với các bệnh viện tự chủ; có thể mở rộng việc giám sát và kiểm tra cho những chuyên gia độc lập thực hiện;
- Nâng cao năng lực quản lý thông qua việc đào tạo cho các cán bộ lãnh đạo;
- Tăng cường thông tin cho quản lý và giám sát thông qua nâng cấp hệ thống thông tin y tế và kiểm toán số liệu.
- Nâng cao y đức của cán bộ y tế nhằm giải quyết những vấn đề mới nảy sinh liên quan đến mâu thuẫn quyền lợi và chạy theo lợi nhuận như một hệ quả của tự chủ bệnh viện và xã hội hóa.
- Cân nhắc thực hiện chính sách cấp chứng nhận chất lượng cho bệnh viện nhằm đảm bảo các bệnh viện có đủ năng lực quản lý và điều trị lâm sàng cơ bản.

 


Api
Api