Learn how the World Bank Group is helping countries with COVID-19 (coronavirus). Find Out

Diễn văn và Bản ghi chép 27 Tháng 11 Năm 2018

Tương lai Ngành Năng lượng Bền vững cho Việt Nam

Kính thưa Thứ trưởng Đặng Hoàng An, Bộ Công thương

Kính thưa ông Bruno Angelet, trưởng Phái đoàn châu Âu tại Việt Nam

Thưa các quý vị đại diện các cơ quan Chính phủ, các Đại sứ, Đối tác phát triển,

Thưa các quý ông, quý bà!

Tôi rất hân hạnh được có mặt tại đây hôm nay và tham gia vào Cuộc họp cấp cao lần thứ 2 của Nhóm Đối tác Năng lượng Việt Nam về tương lai phát triển năng lượng bền vững cho Việt Nam.

Việt Nam đã trở thành một câu chuyện thành công trên toàn cầu về phát triển ngành năng lượng trong một vài thập kỷ vừa qua. Sự thành công của ngành năng lượng là một yếu tố quan trọng đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, tới sự tăng trưởng kinh tế cao và bền vững của quốc gia, sự vượt bậc trong công tác giảm nghèo và nâng cao đời sống cho người dân. Hai khía cạnh cần được nhấn mạnh trong câu chuyện thành công này đó chính là điện khí hoá nông thôn và cải cách ngành.

Về điện khí hoá nông thôn, tỉ lệ tiếp cận điện của Việt Nam đã tăng từ 14% vào năm 1993 lên tới trên 99% vào năm 2018. Trong vòng 25 năm, hơn 14 triệu hộ gia đình hay 60 triệu người dân đã được hoà lưới điện quốc gia. Đây quả thật là một kỳ tích.

Không cần nói thì chúng ta cũng đều hiểu là yêu cầu về tài chính cần thiết cho ngành là vô cùng lớn. Chỉ tính từ năm 2010, ngành điện đã đầu tư $80 tỉ đô la vào phát điện, truyền tải và phân phối và từ nay đến năm 2030 sẽ cần huy động khoảng $150 tỉ đô la nữa. Tiêu thụ điện tuy nhiên còn khá thấp so với tiêu chuẩn quốc tế. Ví dụ, tiêu thụ điện theo đầu người hiện nay vào khoảng 1,700-kilowatt giờ một năm – con số này chỉ bằng 1/3 so với Trung Quốc và bằng 1/5 so với Úc. Bởi nền kinh tế sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ và người dân ngày một khấm khá hơn, nhu cầu điện năng sẽ tăng mỗi năm khoảng 8% trong thập niên tới.

Giá điện vẫn còn thấp dưới mức thu hồi vốn và Tập đoàn Điện lực Việt Nam hiện không nhận trợ cấp trực tiếp từ Chính phủ. Do đó, tôi xin nhấn mạnh rằng EVN và ngành điện đã và đang sử dụng có hiệu lực và hiệu quả đồng vốn ODA. Tất nhiên điều này có được là do sự chỉ đạo, quyết tâm, và năng lực chuyên môn của Bộ Công thương, Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ công nhân viên của EVN.

Về cải cách ngành điện, khoảng chục năm trước, Chính phủ đã đưa ra một lộ trình rõ ràng để thực thi cạnh tranh và tái cấu trúc ngành. Động lực thực hiện là để chuyển từ cấu trúc thị trường độc quyền theo ngành dọc sang thị trường điện cạnh tranh toàn phần. Xin được biểu dương Chính phủ Việt Nam đang tiếp tục những cam kết toàn diện để tiến tới một thị trường điện cạnh tranh. Chúng ta đã đi được một nửa chặng đường và đến năm 2020, thị trường điện bán buôn sẽ bắt đầu được vận hành đầy đủ. Kinh nghiệm với tự do hoá thị trường đến nay rất tích cực, đóng góp vào sự vận hành hiệu quả của EVN trong vai trò một công ty công ích với năng lực vận hành và kỹ thuật tốt, đồng thời cho phép khối tư nhân tham gia vào thị trường phát điện.

Tôi tin rằng tôi có thể đại diện cho cộng đồng các đối tác phát triển có mặt tại đây hôm nay mà nói rằng chúng tôi rất tự hào được đóng góp vào câu chuyện thành công ấy. Các tổ chức tài chính quốc tế và các các nhà tài trợ song phương đã cung cấp tài chính và hỗ trợ kỹ thuật trong hai thập niên qua để hỗ trợ Chính phủ cho chương trình điện khí hoá nông thôn, nâng cấp và mở rộng mạng lưới phân phối và truyển tải xương sống, phát triển các dự án phát điện của nhà nước và tư nhân và hỗ trợ các chương trình cải cách ngành điện và khí.

Thách thức ở đây là tương lai và ngành năng lượng không thể ngủ quên trên những thành quả đạt được trong quá khứ. Chúng ta đều biết rằng các thách thức tiên quyết mà ngành điện cần phải vượt qua trong hai thập niên tiếp theo là đảm bảo đạt được mục tiêu của ngành trong việc cung cấp điện một cách bền vững, sạch, tin cậy và ở mức có chi trả được cho người dân Việt Nam.

Một câu hỏi mấu chốt được đặt ra là làm thế nào để đáp ứng được nhu cầu năng lượng của tương lai nhưng vẫn đảm bảo đươc các mục tiêu của Chính phủ trong việc giảm phát thải khí nhà kính và các chỉ tiêu về biến đổi khí hậu. Đương nhiên vấn đề này lại xoay quanh câu chuyện về vai trò của nhiệt điện than trong bức tranh tổng sơ đồ điện trong tương lai.

Một thách thức khác nữa là cách thức huy động những nguồn tài chính lớn ước tính vào khoảng 8 tỉ đô la mỗi năm để đáp ứng cho nhu cầu điện ngày một tăng nhanh. EVN và khu vực công sẽ không thể huy động được nguồn vốn như vậy, do vậy khối tư nhân trong nước và nước ngoài sẽ cần đóng một vai trò quan trọng hơn trong huy động tài chính cho ngành điện.

Để đối phó với những thách thức này, Chiến lược của Ngân hàng Thế giới trong mảng năng lượng tập trung vào hai sáng kiến sau đây.

Thứ nhất, về Chuyển tiếp Năng lượng – chúng tôi hỗ trợ Chính phủ xác định và thực hiện các giải pháp tốt về mặt kỹ thuật, tài chính và xã hội để giảm thiểu việc sử dụng than trong tương lai, chủ yếu trong phát điện. Đây là một thách thức khó có thể giải quyết nhanh chóng và ngay lập tức mà chúng tôi tin rằng Chính phủ cần thực hiện song song 4 nhiệm vụ trọng tâm để giảm điện than:

·        mở rộng năng lượng tái tạo (đặc biệt điện gió và điện mặt trời);

·        thúc đẩy khí tự nhiên và khí hoá lỏng LNG;

·        tăng cường các đầu tư về hiệu quả năng lượng; và

·        thúc đẩy mua bán điện trong vùng, đặc biệt với Lào và miền Nam Trung Quốc.

Thứ hai là tài chính từ khu vực công và ODA sẽ không thể đủ đáp ứng nhu cầu đầu tư rất lớn của ngành điện. Bởi vậy, thông qua Sáng kiến Tối đa hoá tài chính cho Phát triển (MFD), chúng tôi đang hỗ trợ cho Chính phủ để tìm kiếm và thực hiện các giải pháp đem lại nhiều đầu tư tư nhân và tài chính thương mại hơn nữa cho ngành điện. Sáng kiến MFD đặc biệt phù hợp trong bối cảnh Việt Nam gần đây đã tốt nghiệp IDA và những khó khăn trong vay vốn chính phủ bảo lãnh do chính sách về trần nợ công của Chính phủ. Ba cột trụ cần giải quyết để huy động được nhiều hơn nữa vốn thương mại và tư nhân trong ngành điện là:

·        phát triển và khởi động chương trình nhà sản xuất điện độc lập (IPP) cạnh tranh trong phát điện thành một phần trong kế hoạch phát triển Tổng Sơ đồ Điện 8 với khung hợp đồng có thể thu hút cả đầu tư trong nước và quốc tế trên quy mô lớn;

·        chuẩn bị cho các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh điện và gas tiếp cận tài chính thương mại thông qua đánh giá tín nhiệm và phát hành trái phiếu chính phủ; và

·        hỗ trợ cải cách thị trường ngân hàng và tài chính để cải thiện nguồn lực tài chính nội tệ sẵn có, điều này quan trọng cho cả tài chính dự án và tài chính doanh nghiệp cho các dự án đầu tư năng lượng.

Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ Chính phủ trong nghị trình các Sáng kiến Chuyển tiếp Năng lượng và Tối đa hoá tài chính cho Phát triển và sẽ điều phối với VEPG trong các vấn đề chính sách quan trọng.

Để kết thúc, một lần nữa cho phép tôi gửi lời cảm ơn tới Thứ trưởng An vì sự lãnh đạo và những cam kết mạnh mẽ của ông cùng tinh thần làm việc, hợp tác và đối tác với các tổ chức phát triển nhằm đạt được những mục tiêu đề ra của ngành năng lượng của Việt Nam.

Api
Api