Tổng Quan về Việt Nam

  • Việt Nam đã đạt những thành tích phát triển đáng ghi nhận trong 30 năm qua. Đổi mới kinh tế và chính trị bắt đầu từ năm 1986 đã thúc đẩy phát triển kinh tế và tăng trưởng cao, qua đó nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu thu nhập trung bình thấp.

    Kinh tế Việt Nam phát triển tốt, nhờ kinh tế toàn cầu tiếp tục hồi phục và duy trì cải cách trong nước. Tốc độ tăng trưởng cao tạo điều kiện tăng việc làm và tăng thu nhập, dẫn đến những thành tựu chung về phúc lợi và giảm nghèo. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam ước tính tăng 7,1% (so cùng kỳ năm trước) trong nửa đầu năm 2018. Tăng trưởng GDP diễn ra đồng đều, đứng đầu là tăng trưởng trong ngành chế tạo và chế biến ở mức 13% nhờ sức cầu mạnh từ bên ngoài. Tăng trưởng sản lượng nông nghiệp cũng đạt 3,9% chủ yếu do kết quả tốt ở ngành thủy sản định hướng xuất khẩu. Ngoài ra, tăng trưởng ngành dịch vụ vẫn được duy trì tốt ở mức 6,9% dựa vào tăng trưởng mạnh ở lĩnh vực bán lẻ do tiêu dùng tư nhân đứng vững và lượng khách du lịch tăng kỷ lục.

    Triển vọng trung hạn của Việt Nam được dự báo tốt hơn. Với dự báo hiện nay, tăng trưởng GDP theo giá so sánh dự kiến đạt 6,8% trong năm 2018, trước khi chậm lại ở mức 6,6% trong năm 2019 và 6,5% trong năm 2020 do sức cầu trên toàn cầu dự kiến sẽ chững lại theo chu kỳ. Mặc dù kinh tế đã khởi sắc hơn, lạm phát dự kiến vẫn sẽ đạt trong khoảng chỉ tiêu 4% của Chính phủ, nhờ chính sách tiền tệ phần nào được thắt chặt nhằm đối phó với áp lực giá đầu vào trong nước và giá cả thương phẩm toàn cầu tăng lên. Về kinh tế đối ngoại, tài khoản vãng lai dự kiến vẫn thặng dư nhưng sẽ ở mức thấp hơn từ năm 2019 do thâm hụt cao hơn ở tài khoản doanh thu và dịch vụ. Cân đối ngân sách được củng cố dự kiến sẽ giúp kiềm chế nợ công trong giai đoạn dự báo.

    Việt Nam đang chứng kiến những thay đổi nhanh chóng về cơ cấu dân số và xã hội. Dân số của Việt Nam sau những năm tăng cao đã lên khoảng 95 triệu người vào năm 2017 (so với khoảng 60 triệu người vào năm 1986) và dự kiến sẽ tăng đến 120 triệu người trước khi hạ dần vào khoảng năm 2050. Hiện nay, 70% dân số đang ở độ tuổi dưới 35 với tuổi thọ đạt gần 73 tuổi. Tuy nhiên dân số đang già đi nhanh chóng. Tầng lớp trung lưu đang xuất hiện – đến nay chiếm khoảng 13% dân số và dự kiến sẽ lên đến 26% vào năm 2026.

    Trong ba mươi năm qua, các dịch vụ cơ bản đã được cải thiện đáng kể. Dân trí và sức khỏe trong xã hội Việt Nam ngày nay tốt hơn nhiều so với hai mươi năm trước đó và những thành tựu đó được phân bổ đồng đều. Kết quả học tập và phổ cập giáo dục đều ở mức cao và đảm bảo công bằng ở cấp tiểu học – bằng chứng là điểm số cao đáng kể qua Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA), trong đó học sinh Việt Nam đạt kết quả vượt trội so với nhiều quốc gia OECD. Từ năm 1993 đến năm 2012, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và trẻ dưới năm tuổi đã lần lượt giảm từ 33 xuống còn 19 và từ 45 xuống còn 24 trên một nghìn suất sinh. Tỷ lệ còi xương cũng giảm mạnh trong cùng kỳ từ 61% xuống còn 23%, còn tuổi thọ tự nhiên bình quân  tăng từ 71 lên đến 76 tuổi.

    Cơ hội tiếp cận hạ tầng cho các hộ gia đình cũng được cải thiện mạnh. Đến năm 2016, 99% người dân đã có điện thắp sáng, tăng so với 14% năm 1993. Tại khu vực nông thôn, 77% người dân được sử dụng công trình vệ sinh – so với 36% năm 1993. Người dân nông thôn cũng được cải thiện về tiếp cận nước sạch với mức tăng từ 17% trong năm 1993 lên đến 70% trong năm 2016. Cơ hội tiếp cận hạ tầng cơ bản trên ở khu vực đô thị đã đạt trên 95%.  

    Khoảng cách giới đang được thu hẹp. Đến năm 2015, các hộ gia đình có nữ chủ hộ thường không nghèo hơn so với các hộ có nam giới là chủ hộ. Tỷ lệ nhập học cấp tiểu học và trung học cơ sở của nam và nữ thực chất đã bình đẳng. Học sinh nữ đi học còn nhiều hơn học sinh nam ở cấp trung học phổ thông và sau phổ thông. Từ năm 1990 đến năm 2015, tỷ lệ tử vong bà mẹ giảm từ 233 xuống còn 58,3 trên 100.000 trẻ sinh sống và tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh giảm từ 44 xuống còn 15 trên 1000 trẻ sinh sống – mà không có sự khác biệt giữa trẻ sơ sinh là bé trai hay bé gái. Nữ giới ở Việt Nam cũng được trao quyền nhiều hơn đáng kể trong các hoạt động kinh tế ở thập kỷ qua. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ giới chỉ chênh chưa đầy 10% so với nam giới, là khoảng cách nhỏ hơn so với hầu hết các quốc gia khác. Ngoài ra, tỷ lệ nữ tham gia các công việc hưởng lương cũng đang theo xu hướng tăng, chủ yếu nhờ cơ hội việc làm cho nữ tăng lên ở các cơ sở sản xuất theo định hướng xuất khẩu của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

    Dù vậy, vẫn có một số khoảng cách còn tồn tại – cụ thể liên quan đến khả năng nữ giới được tiếp cận các vị trí lãnh đạo cấp cao và nữ giới dân tộc thiểu số. Tỷ lệ giới tính khi sinh vẫn bị bất cân đối đáng kể

    Lần cập nhật gần nhất: 9 Tháng 10 Năm 2018

  • Khung đối tác quốc gia (CPF) mới của Nhóm Ngân hàng Thế giới (WBG) vừa được thông qua, định hướng cho các hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn 2018-2022. Được thông qua ngày 30/5/2017, Khung đối tác này thể hiện các lĩnh vực ưu tiên nêu trong Báo cáo Đánh giá Quốc gia Việt Nam 2016 của WGB, Báo cáo Việt Nam 2035, và Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội giai đoạn 2016 – 2020 của Chính phủ Việt Nam. Trên cơ sở đó, Khung đối tác sẽ tập trung vào 4 lĩnh vực trọng điểm:

    • phát triển bao trùm và sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân;
    • đầu tư vào con người và tri thức;
    • bền vững môi trường và năng lực ứng phó; và
    • quản trị tốt.

    Phát huy các hoạt động sâu, rộng của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Khung đối tác này đưa ra một số chuyển hướng chiến lược WGB trong giai đoạn tới bao gồm:

    • Hỗ trợ toàn diện nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân và sự tham gia của kinh tế tư nhân vào các ngành kinh tế;
    • Phấn đấu đảm bảo bền vững tài chính các dịch vụ công và các chính sách xã hội;
    • Hỗ trợ giảm nghèo nhóm dân tộc thiểu số nhờ các hoạt động tạo việc làm và thu nhập;
    • Hỗ trợ đa ngành nhằm tăng cường mối liên kết giữa giáo dục, đào tạo và thị trường lao động; và
    • Thúc đẩy và khuyến khích sản xuất điện với mức phát thải các-bon thấp.

    Trong giai đoạn tới, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) sẽ hỗ trợ bằng hình thức đầu tư và tư vấn, và huy động nguồn vốn dài hạn cho các khoản đầu tư mang lại lợi ích kinh tế-xã hội lớn, hỗ trợ sự phát triển thị trường vốn và các nguồn vốn tư nhân khác.

    Thông qua các sản phẩm bảo hiểm rủi ro chính trị và tăng cường tín dụng truyền thống Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa phương (MIGA) sẽ bổ sung thêm cho các khoản vay của Ngân hàng Thế giới bằng cách huy động đầu tư tư nhân, giúp chính phủ và có thể cả các doanh nghiệp nhà nước vay thương mại. 

    Lần cập nhật gần nhất: 24 Tháng 8 Năm 2017

  • Việt Nam đang chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường. Mối quan hệ đối tác của Ngân hàng Thế giới với Việt Nam từ năm 1993 đã góp phần đem lại những kết quả đáng ghi nhận trên (xem phim ở đây).

    Tính đến tháng 8 năm 2018, Ngân hàng Thế giới đã cung cấp 24 tỷ US$ viện trợ không hoàn lại, vốn tín dụng và vốn vay ưu đãi cho Việt Nam. Danh sách dự án tính đến tháng 9 năm 2018 ở Việt Nam bao gồm 46 dự án đang triển khai, 55 hoạt động hỗ trợ tư vấn và phân tích, với tổng cam kết ròng lên đến gần 9,5 tỷ US$.

    Quan hệ đối tác trong 25 năm qua giữa Việt Nam và Nhóm Ngân hàng Thế giới về phát triển giao thông đường thủy nội địa ở Việt Nam đã đem lại những chuyển đổi to lớn trong lĩnh vực quan trọng này cho Việt Nam. Đầu tư vào lĩnh vực này đem lại những kết quả quan trọng về kinh tế, xã hội và môi trường vì đó là phương thức vận tải chi phí thấp, năng lực cao và thân thiện với môi trường. (Xem phim ở đây).

    Bằng nguồn vốn và chuyên gia của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam, chỉ trong vòng 4 năm, đã triển khai chương trình mầm non bán trú được cho 84% trẻ ở độ tuổi lên năm – so với 66% trong năm 2011. Chất lượng giáo dục mầm non được cải thiện nhờ chương trình nâng cao nghiệp vụ giáo dục sớm (ECE) cho nhiều giáo viên và cán bộ quản lý. Trên 2.000 giáo viên nòng cốt được đào tạo để truyền thụ lại nghiệp vụ giáo dục sớm (ECE) cho khoảng 250.000 giáo viên theo phương pháp lấy trẻ em làm trung tâm. (Tham khảo thông tin tại đây). Tỷ lệ nhập học tiểu học đạt 99% cho trẻ em đủ điều kiện, còn tỷ lệ dự học của học sinh nam và nữ cơ bản ở mức công bằng. Học sinh người dân tộc thiểu số được học theo phương pháp kèm riêng thông qua các bài học điều chỉnh theo học sinh. Về giáo dục đại học, hàng loạt chương trình đã hỗ trợ hình thành nên khung pháp lý mới nhằm nâng cao tự chủ kèm theo trách nhiệm giải trình cho các trường cao đẳng và đại học. (Tham khảo thông tin tại đây). Ngân hàng Thế giới cũng hỗ trợ Việt Nam qua nghiên cứu về việc làm trong tương lai (Xem phim tại đây).

    Việt Nam đang theo đuổi những cải cách và đầu tư nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh và xử lý nguy cơ cao về biến đổi khí hậu, đồng thời đã và đang thực hiện các biện pháp kiên quyết kể từ khi ký kết Hiệp định Pa-ri. Mối quan hệ đối tác hai bên đóng vai trò quan trọng nhằm thực hiện những chỉ tiêu Việt Nam đề ra về Đóng góp của Quốc gia, thông qua huy động nguồn lực, cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và hỗ trợ đổi mới chính sách (Tham khảo bài viết điển hình và tài liệu trình chiếu ở đây).

    Tăng cường chính sách pháp luật nhằm xử lý những hình thức xung đột lợi ích thường gặp – như biếu xén, tận dụng quan hệ thân hữu và thông tin nội gián để trục lợi cá nhân – là cách để cải thiện liêm chính và hiệu quả của bộ máy công quyền. Báo cáo do Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới thực hiện với sự hỗ trợ của Chính phủ Anh gần đây đã đi sâu phân tích về những cải cách chính sách nhằm xử lý xung đột lợi ích, bao gồm cả cải cách về pháp lý. (Tham khảo và tải báo cáo tại đây)

    Các chương trình nâng cấp đô thị đã cải thiện điều kiện sống cho hàng triệu người nghèo ở đô thị. Ở nhiều thành phố, các khu vực thu nhập thấp đang phải chịu ngập lụt thường xuyên và điều kiện vệ sinh kém, gây ra những rủi ro nghiêm trọng về sức khỏe và môi trường. Dự án nâng cấp đô thị Việt Nam, hiện đang được thực hiện ở Hải Phòng, Nam Định, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ đang xử lý những thách thức trên, đem lại lợi ích cho khoảng 7,5 triệu người dân. Dự án cung cấp 95 triệu khoản tín dụng vi mô để cải tạo nhà ở và tạo thu nhập cho các hộ gia đình thuộc nhóm 40% có thu nhập thấp nhất. (Tham khảo bài viết và đoạn phim ).


    Vệ sinh đô thị vẫn là một thách thức quan trọng ở nhiều thành phố .Dự án vệ sinh môi trường ở thành phố Hồ Chí Minh, đem lại lợi ích trực tiếp cho 1,2 triệu người, đã giúp thành phố chuyển đổi thông qua cải thiện điều kiện vệ sinh và chống ngập. (Tham khảo bài viết và đoạn phim). Dự án vệ sinh môi trường đô thị vùng duyên hải nhằm xử lý thoát nước, xây dựng công trình thu gom, xử lý nước thải, công trình quản lý chất thải rắn và chương trình tăng cường năng lực toàn diện đã và đang đem lại lợi ích cho 800.000 người dân ở Đồng Hới, Quy Nhơn và Nha Trang. (Tham khảo thông tin).

    Trồng rừng đem lại nguồn thu nhập quan trọng cho các hộ gia đình thu nhập thấp. Từ năm 2005 đến năm 2015, trên 43.000 hộ gia đình tại sáu tỉnh miền trung Việt Nam đã được hỗ trợ kỹ thuật và tín dụng vi mô để phát triển rừng quy mô hộ nhỏ. Dự án phát triển ngành lâm nghiệp, với quy mô 76.500 ha rừng, là dự án đầu tiên và duy nhất cho đến nay ở Việt Nam áp dụnh phương pháp cho vay để trồng rừng ở quy mô hộ nhỏ - là cách làm được minh chứng là bền vững hơn nhiều so với cách làm truyền thống là trợ cấp để trồng rừng. (Xem đoạn phim và tài liệu trình chiếu)

    Các công trình vệ sinh và nước sạch đang được nhân rộng. Cấp nước đô thị cho thị xã và thị trấn đã tăng gấp đôi lên đến 60% từ năm 2006 đến năm 2009, và tăng từ 75% lên đến 95% ở các thành phố trong cùng kỳ. Tỷ lệ tiếp cận nước sạch nông thôn đã tăng từ 36% lên 70% từ năm 1999 đến 2009. Ngân hàng Thế giới đã hỗ trợ cho hoạt động phát triển này thông qua đầu tư cho vệ sinh và nước sạch nông thôn tại vùng Đồng bằng sông Hồng, và thông qua các chương trình đổi mới sáng tạo như Dự án thuộc chương trình toàn cầu về viện trợ theo đầu ra phối hợp với Quỹ Đông Tây Hội ngộ. Từ năm 2005 đến năm 2013, Dự án vệ sinh và nước sạch nông thôn Đồng bằng sông Hồng đã đem lại cơ hội tiếp cận nước sạch cho gần 1,3 triệu người tại bốn tỉnh thông qua cách tiếp cận dựa vào cộng đồng. Các hộ gia đình được vay vốn lãi suất thấp để xây dựng hoặc cải tạo trên 48.000 công trình vệ sinh và nhà vệ sinh hợp vệ sinh, nâng tỷ lệ hộ gia đình có nhà vệ sinh hợp vệ sinh từ 25% lên 87%. (Tham khảo đoạn phim và bài viết)

    Năng lực dự báo và cảnh báo sớm trong quản lý rủi ro thiên tai tổng hợp tiếp tục được cải thiện. Dự án quản lý rủi ro thiên tai được triển khai tại 12 tỉnh đã giúp xây dựng được 11 công trình hạ tầng lớn nhằm giảm nhẹ tác động bão lũ, như cảng tránh bão, đê sông, đường lánh nạn và trạm bơm thoát nước. Trên 210.000 người dân thôn bản tại 30 xã đã thực hiện các biện pháp công trình, bao gồm các trung tâm sơ tán đa dụng và kênh thoát nước, song song với các biện pháp phi công trình như lập kế hoạch xã an toàn và thực tập sơ tán. (Tham khảo bài viết và hình ảnh trình chiếu)

    Đến nay 95% người dân đã có điện dùng. Trong mười năm qua, cứ mỗi ngày lại có thêm 9.000 người dân ở Việt Nam được kết nối điện lưới. Chỉ trong vòng năm năm, quốc gia đã nâng công suất phát điện lên gấp đôi, đạt 25.000 MW vào năm 2010. Qua Dự án năng lượng nông thôn 2, trên 2,7 triệu người tại một số vùng nghèo nhất ở Việt Nam đã có điện dùng. (Xem đoạn phim)

    Dự án Giao thông nông thôn 3 đang giúp người nghèo và những người có hoàn cảnh khó khăn tại 33 tỉnh, đặc biệt ở khu vực đặc biệt khó khăn miền núi phía bắc Việt Nam, nâng cao khả năng kết nối với thị trường và các dịch vụ. Đến nay, trên 90% người dân được kết nối bằng đường bộ trong mọi thời tiết. Với mức đầu tư bình quân bằng 4,5% GDP, Việt Nam đứng đầu ở châu Á về đầu tư cho hạ tầng đường bộ (Xem đoạn phim)

    Với tỷ lệ thương vong xe cơ giới ở mức 6,5‰ mỗi năm, tai nạn giao thông hiện là quan ngại tầm quốc gia ở Việt Nam. Để xử lý tỷ lệ tai nạn thuộc dạng cao nhất trên thế giới,  Dự án an toàn giao thông đường bộ Việt Nam đang phối hợp các ngành y tế, giáo dục, công an và quản lý đường bộ để giảm thương vong. Đến nay 95% người đi xe gắn máy đã đội mũ bảo hiểm. 

    Dự án giảm nghèo miền núi phía bắc giai đoạn 1 đã nâng cao chất lượng sống cho khu vực miền núi vùng sâu vùng xa. Sau đây là một số kết quả: trên 118.000 hộ gia đình được sử dụng nước sạch và trên 350.000 hộ gia đình được cải thiện về chăm sóc y tế. Dự án tiếp theo tiếp tục phát huy những kết quả ban đầu đó, đồng thời tăng cường phòng chống rủi ro thiên tai cho các cộng đồng, bên cạnh những sáng kiến thí điểm về dịch vụ kết nối thị trường. Kết quả là thu nhập của các hộ gia đình tham gia tăng ít nhất 10% so với mức bình quân của các xã ngoài vùng dự án. Gần 80% các tổ sản xuất cùng chung lợi ích của nông dân cho biết họ được kết nối thị trường tốt hơn và đạt năng suất cao hơn. (Tham khảo bài viết và đoạn phim)

    Quyền đứng tên sở hữu đất đai đã tăng lên cho nữ giới. Tiếp theo thành công của hai dự án thí điểm được Ngân hàng Thế giới hỗ trợ đầu những năm 2000, Chính phủ đã thông qua Luật Đất đai quy định cả vợ và chồng đều cùng đứng tên trong chứng nhận sở hữu đất (xem đoạn phim). Dự án quản lý đất đai Việt Nam được Ngân hàng Thế giới hỗ trợ đã đặt mục tiêu cấp khoảng 5 triệu chứng nhận sở hữu đất chung tên vào năm 2013.

    Lần cập nhật gần nhất: 9 Tháng 10 Năm 2018

Api


CÁC KHOẢN VAY

Việt Nam: Các khoản cam kết theo năm tài khóa (đơn vị: triệu đô la)*

*Các khoản tín dụng bao gồm các cam kết IBRD và IDA



KHO ẢNH

Ảnh khác Arrow

Chuyên đề

27 Tháng 9 Năm 2017

Giáo dục và đào tạo nhân lực phục vụ cải cách hệ thống y tế tại Việt Nam

Dự án sẽ góp phần tăng cường cả số lượng và chất lượng nguồn nhân lực y tế tuyến cơ sở ở những vùng khó khăn.

13 Tháng 7 Năm 2017

Kinh tế tích cực, triển vọng trung hạn ổn định

Báo cáo mới ghi nhận chuyển biến kinh tế tích cực, dần lấy lại đà tăng trưởng, và gợi ý chính sách nhằm xử lý trở ngại tăng trưởng có tính chất cơ cấu.

22 Tháng 5 Năm 2014

Báo cáo Việt Nam 2035

Báo cáo phác thảo con đường để Việt Nam trở thành một quốc gia giàu có và hiện đại, mang lại sự thịnh vượng cho mọi người đến năm 2035.

Năng lượng 5 Tháng 4 Năm 2012

Dự án Thủy điện Trung Sơn: Đáp ứng nhu cầu thủy điện ngày càng tăng

Dự án sẽ đóng góp thêm 1.055 GWh vào lưới điện quốc gia, và tạo việc làm, cung cấp các dịch vụ cơ bản cho hơn 2.000 người dân sống ở khu vực dự án.

7 Tháng 2 Năm 2012

Việt Nam: Trước và sau thực hiện dự án do Ngân hàng Thế giới hỗ trợ

Mô hình phát triển của Việt Nam giúp hàng triệu người thoát nghèo và cải thiện đời sống người dân. Một số kết quả đạt được nhờ các dự án do Ngân hàng Thế giới hỗ trợ

Thông tin thêm

Liên hệ văn phòng quốc gia

Hà Nội, +84.2439346600
Tầng 8, Tòa nhà 63 Lý Thái Tổ, Hà Nội, Việt Nam.
vietnam@worldbank.org
Washington, +1 202-473-4709
1818 H Street NW, Washington, DC 20433
eastasiapacific@worldbank.org