Tổng Quan về Việt Nam

Việt Nam là một câu chuyện điển hình về phát triển thành công. Công cuộc Đổi mới kinh tế và chính trị bắt đầu từ năm 1986 đã đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới với thu nhập bình quân đầu người dưới 100 đô la Mỹ, trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp chỉ trong vòng 25 năm với thu nhập đầu người trên 2.000 USD năm 2014. Ngày nay, Việt Nam đã hoàn thành hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, trong đó hoàn thành vượt mức một số mục tiêu, đặc biệt là các mục tiêu giảm nghèo, giáo dục và bình đẳng giới.

Trong các thập kỷ vừa qua Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng ghi nhận về giảm nghèo. Hiện nay tỉ lệ người nghèo đã giảm xuống dưới 3% từ mức 60% trong thập niên 1990. Trong vòng 10 năm qua tỉ lệ tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt 6,4%/năm nhưng tốc độ tăng trưởng gần đây đã bắt đầu suy giảm. Năm 2014, mức tăng GDP là 6%, dự tính sẽ giữ ở mức tương đương trong năm 2015 và bắt đầu tăng năm 2016. Việt Nam đã thành công trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, kéo tỉ lệ lạm phát từ mức đỉnh 23% vào thời điểm tháng 8/2013 xuống còn 4,1% năm 2014.

Xuất khẩu vẫn là cỗ máy quan trọng thúc đẩy tăng trưởng. Ước tính giá trị xuất khẩu tính bằng đồng USD tăng 11,6% năm 2014, cao hơn các nước khác trong khu vực. Các mặt hàng xuất khẩu thâm dụng lao động truyền thống như dệt may, giày dép và đồ gỗ tiếp tục tăng trưởng nhanh. Các mặt hàng mới bổ sung vào danh sách xuất khẩu gần đây bao gồm các sản phẩm công nghệ cao và có giá trị cao như điện thoại di động, máy tính, sản phẩm điện tử và phụ tùng xe hơi cũng tăng trưởng nhanh và chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu.

Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội giai đoạn 2011-2020 sẽ tập trung vào cải cách cơ cấu, đảm bảo bền vững môi trường, bình đẳng xã hội cũng như các vấn đề mới nảy sinh trong quá trình ổn định kinh tế vĩ mô. Chiến lược xác định ba lĩnh vực “đột phá” bao gồm: (i) Phát triển nguồn nhân lực (nhất là nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghiệp hiện đại và đổi mới sáng tạo). (ii) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, và (iii) Phát triển hạ tầng.

Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 cụ thể hoá mục tiêu trong 5 năm đầu, đề ra các biện pháp và chuẩn bị nguồn lực cần thiết để thực hiện tăng trưởng bền vững và với chất lượng cao, bao gồm: tái cơ cấu kinh tế nhằm tăng tỉ trọng các hoạt động có giá trị gia tăng cao; nâng cao mức sống cho nhóm dân tộc thiểu số; tăng cường bảo vệ môi trường; và phòng tránh và giảm nhẹ tác động biến đổi khí hậu. Hiện nay đã hoàn thành đánh giá kế hoạch 5 năm này và kế hoạch 5 năm mới, giai đoạn 2016 – 2020 đang trong giai đoạn chuẩn bị nhằm thực hiện mục tiêu đề ra trong chiến lược 10 năm.

Gần đây Chính phủ đã chú ý hơn tới vấn đề cải thiện môi trường kinh doanh và đã thông qua hai nghị quyết tháng 3/2014 và tháng 3/2015, trong đó đề ra các hành động cụ thể nhằm gỡ bỏ các rào cản kinh doanh tại Việt Nam, phấn đấu bắt kịp môi trường kinh doanh tại các nước nhóm ASEAN-6.

Lần cập nhật gần nhất: 15 Tháng 4 Năm 2015

Theo các ưu tiên chiến lược và mục tiêu Chính phủ đã đề ra Ngân hàng Thế giới đã xây dựng Chiến lược đối tác quốc gia giai đoạn 2012 - 2016 nhằm hỗ trợ Việt Nam trên ba lĩnh vực đột phá về phát triển nguồn nhân lực, hoàn thiện thể chế thị trường, và phát triển hạ tầng. Chiến lược đối tác quốc gia cũng hỗ trợ thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2015, trong đó bao gồm cả việc giải quyết các vấn đề trong quá trình chuyển tiếp từ một nước thu nhập thấp lên mức thu nhập trung bình, cụ thể: từ một nền kinh tế nông nghiệp trở thành một nền kinh tế đô thị và công nghiệp, từ tập trung vào số lượng sang chất lượng hàng hoá và dịch vụ, và từ dựa vào lợi thế so sánh về nhân công giá rẻ sang đổi mới sáng tạo và tạo ra hàng hoá và dịch vụ có hàm lượng giá trị gia tăng cao hơn.

Việt Nam là ví dụ điển hình về việc thực hiện mục tiêu kép của Nhóm Ngân hàng Thế giới về xóa nghèo cùng cực (mức sống dưới 1,25 USD/ngày) vào năm 2030 và tăng cường chia sẻ thịnh vượng trong số 40% nhóm nghèo nhất tại các nước đang phát triển, với thành tích tăng trưởng nhanh mà không kéo theo bất bình đẳng lớn. Tăng trưởng kinh tế đã giúp Việt Nam đạt thành tích ngoạn mục về giảm nghèo và chia sẻ thịnh vượng trong vòng 25 năm qua. Theo số liệu mới nhất (2012) thì tỉ lệ nghèo cùng cực tại Việt Nam ở mức dưới 3%. Nhưng, so với chuẩn nghèo quốc gia thì tỉ lệ nghèo trong nhóm dân tộc thiểu số, nhóm chiếm 15% dân số, vẫn chiếm trên một nửa, 59%. Ngoài ra, Việt Nam cũng vẫn chưa đạt nhiều thành tích trong một số tiêu chí phi thu nhập như dinh dưỡng, cấp nước sạch và vệ sinh môi trường. Các tiêu chí về sức khỏe bà mẹ và trẻ em, và giáo dục trong một vài nhóm dân tộc thiểu số cũng nằm ở mức khá thấp. Vẫn còn nhiều người mới chỉ có mức sống nhỉnh hơn chuẩn nghèo một chút và có thể bị tái nghèo trở lại, nhất là trong bối cảnh mức độ dễ bị tổn thương của họ tăng lên—kể cả việc bị tác động của biến đổi thời tiết.

Do vậy, tại Việt Nam lộ trình thực hiện Mục tiêu kép cần tập trung vào 4 chủ điểm ưu tiên sau đây: (i) hỗ trợ quay trở lại con đường tăng trưởng mạnh và chia sẻ thịnh vượng; (ii) chú ý hơn đến các vấn đề nghèo phi thu nhập; (iii) hướng tới các cộng đồng tụt hậu, cụ thể là các cộng đồng thiểu số; và (iv) giải quyết nguồn gốc gây ra tình trạng dễ bị tổn thương.

Chiến lược đối tác quốc gia hỗ trợ các dự án đầu tư và chính sách theo 3 trụ cột và 3 chủ điểm liên ngành. Đó là các trụ cột: (i) tăng cường năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, (ii) tăng cường mức độ bền vững của phát triển, và (iii) mở rộng tiếp cận cơ hội. Các chủ điểm liên ngành bao gồm: (i) tăng cường quản trị, (ii) hỗ trợ bình đẳng giới, và (iii) tăng cường sức đề kháng trước các cú sốc bên ngoài về kinh tế, thiên tai và tác động của biến đổi khí hậu.

Nhận thức được các thách thức mới nảy sinh trong chương trình giảm nghèo như gia tăng bất bình đẳng, nghèo đô thị, và tình trạng tập trung tỉ lệ nghèo cao trong các nhóm dân tộc thiểu số, Chiến lược đối tác quốc gia tái khẳng định quyết tâm giảm nghèo, trong đó bao gồm cả việc nghiên cứu các nguyên nhân mới dẫn đến tình trạng nghèo và trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp can thiệp giảm nghèo có mục tiêu.

Quản trị và giới là hai chủ đề xuyên suốt các hoạt động ngay từ giai đoạn chuẩn bị và nắm bắt thời cơ hỗ trợ. Khả năng chống chịu là chủ đề mới phát sinh khi Việt Nam ngày càng phải đối mặt với các cú sốc trên nhiều lĩnh vực như sốc về kinh tế từ bên ngoài tác động lên cả nền kinh tế vĩ mô lẫn các hộ gia đình, các cú sốc từ thiên tai và biến đổi khí hậu. Chiến lược đối tác quốc gia hỗ trợ Việt Nam tăng cường sức đề kháng trước các cú sốc này và theo từng trụ cột.

Đánh giá tiến độ Chiến lược đối tác quốc gia của Nhóm Ngân hàng Thế giới thực hiện năm 2014 cho thấy chiến lược này vẫn rất phù hợp với các thách thức phát triển của Việt Nam như đã đề cập trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội và Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và với mục tiêu thúc đẩy giảm nghèo và chia sẻ thịnh vượng. Quá trình thực hiện mục tiêu Chiến lược đối tác quốc gia đã đạt nhiều tiến bộ.

Tại Diễn đàn đối tác phát triển Việt Nam (VDPF) 2014, các đại biểu đã thống nhất chú ý hơn nữa đến vấn đề thực hiện các bộ luật đã thông qua hoặc mới được sửa đổi gần đây gồm Luật đấu thầu, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư công, Luật giáo dục, Luật bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, v.v. Đây là những bộ luật giúp cải thiện môi trường kinh doanh và phát triển kinh tế, đồng thời đảm bảo tạo ra một mạng lưới an sinh xã hội tốt hơn hướng tới một sự tăng trưởng hòa nhập hơn cho mọi người dân Việt Nam. VDFP là một cơ chế đối thoại cấp cao mới giữa Chính phủ Việt Nam và các đối tác phát triển và được đồng tổ chức bởi Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Thế giới.

Lần cập nhật gần nhất: 15 Tháng 4 Năm 2015

Việt Nam đang trong quá trình chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường. Mối quan hệ đối tác giữa Ngân hàng Thế giới và Việt Nam từ năm 1993 đã góp phần đạt được các kết quả to lớn.

Vào thời điểm tháng 2/2015 Ngân hàng Thế giới đã cấp gần 19,6 tỉ USD gồm viện trợ không hoàn lại, cho vay và vốn ưu đãi cho Việt Nam. Danh mục dự án Việt Nam hiện nay gồm 45 dự án IDA/IBRD và 5 dự án quỹ tín thác riêng rẽ với tổng cam kết thuần là 8.258 tỉ USD. Tương tự, chương trình của IFC và MIGA tại Việt Nam cũng tăng trưởng đáng kể.

Năm 2009,  Việt Nam nhận được khoản vay đầu tiên từ IBRD, cơ quan cho vay các nước thu nhập trung bình và có độ khả tín thấp của Ngân hàng Thế giới. Đây là món vay hỗ trợ chương trình cải cách đầu tư công. Cho đến nay IBRD đã cam kết trên 2,8 tỉ USD cho Việt Nam, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển.

Các chương trình nâng cấp đô thị đã góp phần cải tạo điều kiện sống cho hàng triệu người nghèo sống tại các thành phố. Các khu nghèo tại các thành phố thường xuyện bị ngập lụt, điều kiện vệ sinh kém và đi kèm các nguy cơ mắc bệnh và rủi ro về môi trường. Dự án nâng cấp đô thị Việt Nam đã giải quyết các thách thức như vậy tại Hải Phòng, Nam Định, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ, mang lại lợi ích cho 7,5 triệu dân. Dự án cũng cung cấp 95.000 món vay nhỏ cho các hộ gia đình thuộc nhóm 40% nghèo nhất giúp các hộ đó cải tạo nhà cửa hoặc kinh doanh tạo thu nhập. (Xem bài viết và video).

Công tác trồng rừng cũng mang lại nhiều lợi ích về xã hội, môi trường và kinh tế cho cộng đồng. Từ 2005 đến 2015, đã có trên 43.000 hộ gia đình tại 6 tỉnh miền Trung Việt Nam được vay món vay nhỏ, được hỗ trợ kỹ thuật và trồng được 76.500 ha rừng trong Dự án phát triển lâm nghiệp. Đây là dự án đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam thực hiện cho vay trồng rừng qui mô nhỏ. Thực tế đã chứng tỏ phương pháp này bền vững hơn so với phương pháp trợ vốn trồng rừng truyền thống tại Việt Nam. (Xem bài viết, video và ảnh).

Cơ hội tiếp cận các dịch vụ tín dụng nông thôn được cải thiện đáng kể: Trong hơn một thập kỷ qua, lần đầu tiên, số hộ gia đình nông thôn có cơ hội tiếp cận các dịch vụ tín dụng – nhằm hỗ trợ các hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như kinh doanh nhỏ - đã tăng lên đáng kể. Các Dự án Cấp vốn Nông thôn giai đoạn một, giai đoạn haigiai đoạn ba đã đóng góp vào quá trình này và giúp tăng cường năng lực một số thể chế tài chính nông thôn. Hai dự án lần thứ hai và thứ ba đã cấp vốn cho 535.000 tiểu dự án, thu hút 1,23 tỉ USD tiền vốn và giúp tạo thêm việc làm mới (Xem bài viết). Trên 1/3 số người vay trong dự án cấp vốn lần ba là những người lần đầu tiếp cận vay vốn tín dụng từ cơ sở chính thức và trên một nửa số người vay là phụ nữ.

Các dịch vụ cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn được mở rộng: Nguồn cung cấp nước sạch tại các thị xã nhỏ tăng gấp đôi lên đến 60% trong giai đoạn 2006 đến 2009, và tại các thành phố lớn trong cùng kỳ, nguồn cung tăng từ 75% lên tới 95%. Các khu vực nông thôn được tiếp cận nguồn nước sạch tăng từ 36% năm 1999 lên tới 70% năm 2009. Ngân hàng Thế giới đã đóng góp để hỗ trợ Việt Nam đạt được những con số phát triển này thông qua các khoản đầu tư vào dự án cung nước sạch và vệ sinh môi trường khu vực Đồng bằng sông Hồng và các sáng kiến như dựa vào kết quả đầu ra trên toàn cầu của Tổ chức Đông Tây Hội ngội (EMW). Trong khoảng thời gian 2005 và 2013, Dự án Cấp nước sạch và Vệ sinh Nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng đã cung cấp nước sạch cho 1,3 triệu người tại 4 tỉnh thông qua cách tiếp cận dựa trên cộng đồng. Các hộ gia đình được vay tiền với lãi suất thấp nhằm xây mới hoặc cải tạo trên 48.000 nhà vệ sinh, nâng tỉ lệ hộ có nhà vệ sinh từ 25% lên 87%. (Xem video và bài viết)

Vệ sinh đô thị là vấn đề ưu tiên được hỗ trợ. Dự án Vệ sinh Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo ra một tác động chuyển đổi, giúp cải tạo vệ sinh môi trường và giảm nạn úng lụt cho 1,2 triệu người, đồng thời dự án đã làm cho cảnh quan khu vực trở thành một tài sản mới của thành phố, nơi người dân thành phố có thể nghỉ ngơi, tận hưởng bầu không khí trong lành. (Xem bài viết và video)

Năng lực cảnh báo thảm họa sớm, năng lực dự báo, và năng lực quản lý rủi ro đã được cải thiện. Dự án Quản lý Rủi ro Thiên tai đã triển khai tại 12 tỉnh, giúp xây dựng 11 công trình giảm nhẹ bão lũ như cảng tránh bão, đê sông, đường lánh nạn, trạm bơm tiêu úng. Trên 210.000 người tại 30 xã thực hiện các biện pháp công trình bao gồm các trung tâm sơ tán đa dụng, kênh thoát nước và các biện pháp phi công trình như xây dựng kế hoạch làng xã an toàn, thực tập sơ tán. (xem bài viết và ảnh).

95% dân số được sử dụng lưới điện quốc gia: Cứ mỗi ngày trong vòng 10 năm qua, 9.000 người dân tại Việt nam được kết nối với lưới điện quốc gia lần đầu tiên. Công suất phát điện tại Việt nam đã tăng gấp hai lần từ 12.000 MW năm 2005 lên tới 25,000 MW năm 2010. Với sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới cho Dự án Năng lượng Nông thôn 2 (Tiếng Anh), hơn 2,7 triệu người thuộc 555.327 hộ gia đình tại một số khu vực nghèo nhất của Việt nam có cơ hội được hòa vào lưới điện quốc gia (xem video bằng Tiếng Anh).

Hơn 90% dân số có cơ hội giao thương bởi các tuyến đường nhựa: Được triển khai tại 33 tỉnh thành, Dự án Giao thông Nông thôn 3 (Tiếng Anh) đang xúc tiến triển khai tại một số khu vực đồi núi khó khăn nhất tại các tỉnh miền Bắc Việt nam, kết nối các cộng đồng nghèo điều kiện khó khăn với các thị trường buôn bán và dịch vụ tốt hơn. Với mức đầu tư trung bình bằng khoảng 4,5% GPD, Việt nam là nhà đầu tư lớn tại châu Á vào cơ sở hạ tầng giao thông nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển, giúp các thành phố và tỉnh thành có cơ hội giao thương để từ đó giúp người dân thoát nghèo. (xem video bằng Tiếng Anh)

95% người lái xe máy đã đội mũ bảo hiểm: Được thống kê có đến 6,5 ca tử vong trên 10.000 phương tiện giao thông mỗi năm, cao gấp 6 lần so với Nhật bản, tai nạn giao thông tại Việt nam là một trong những nguyên nhân chính  gây ra cuộc khủng hoảng thương tật tại Việt nam. Để giải quyết vấn đề tai nạn giao thông trong số những quốc gia có tỷ lệ tai nạn cao nhất trên thế giới này, Dự án An toàn Giao thông tại Việt nam (Tiếng Anh) đang phối hợp cùng các tổ chức y tế, giáo dục, công an và giao thông nhằm nỗ lực giảm tỷ lệ tai nạn và tử vong.

Cải thiện mức sống vùng núi và vùng sâu vùng xa: Được tài trợ từ Dự án giảm nghèo các tỉnh vùng núi phía Bắc giai đoạn 1 (Tiếng Anh), đã có 353.871 hộ gia đình được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn, hơn 118.000 hộ gia đình được sử dụng nước sạch, nhờ đó mà điều kiện sức khỏe của người dân địa phương được nâng cao đáng kể. Giai đoạn hai của dự án sẽ được xây dựng dựa trên những kết quả đạt được ban đầu này, đồng thời sẽ đẩy mạnh hơn nữa việc đào tạo kỹ năng ứng phó trước các rủi ro thảm họa trong cộng đồng, và triển khai thí điểm các sáng kiến dịch vụ liên kết thị trường. (Xem bài viết và video)

Giáo dục tiểu học tăng gấp hai lần và nhiều trẻ em có hoản cảnh khó khăn được đi học hơn. Tỷ lệ học sinh tiểu học được đi học trên cả nước tăng từ 25% lên tới 50% năm 2005. Trẻ em tại các huyện có hoàn cảnh khó khăn được đi học tăng lên 94% (so với mức 97% trên cả nước) trong đó tỷ lệ học sinh nữ được đi học cấp 2 lên tới 78%, cao hơn mức 77% học sinh nam. Các bài học gần gũi với cuộc sống cung cấp cho học sinh dân tộc thiểu số ở 49 trường tiểu học một phương pháp tiếp cận theo hướng thực hành nhiều hơn. Mô hình trường học mới sử dụng các phương pháp dạy và học sáng tạo đã được thử nghiệm ở 24 trường tiểu học tại sáu tỉnh vào năm 2010. Mô hình này đã rất thành công nên Chính phủ Việt Nam quyết định sẽ mở rộng đến 63 tỉnh, thành trên cả nước. (Xem bài viết và video)

Điều kiện y tế và tiếp cận dịch vụ y tế đã được cải thiện. Nhờ Dự án Hỗ trợ Y tế Đồng bằng sông Cửu Long, các cơ sở và dịch vụ y tế đã được cải thiện mang lại lợi ích cho 16 triệu người trong vùng. Trong số đó có 2,5 triệu người được hưởng dịch vụ bảo hiểm y tế tốt hơn. Khoảng 10.000 nhân viên y tế được đào tạo nâng cao tay nghề giúp thỏa mãn nhu cầu tại địa phương. Dự án Phòng chống HIV/AIDS đã góp phần giúp giữ tỉ lệ HIV/AIDS tại Việt Nam ở mức dưới 0,3% dân số. (Xem video).

Quyền sở hữu đất đai của phụ nữ tăng cao hơn: Sau thành công của hai dự án được triển khai thí điểm do Ngân hàng Thế giới tài trợ đầu những năm 2000, Chính phủ Việt nam đã thông qua Luật đất đai quy định tất cả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng (xem video bằng Tiếng Anh). Dự án Quản lý Đất đai Việt Nam (Tiếng Anh) được tài trợ bởi Ngân hàng Thế giới nhằm mục đích đến năm 2013 có thể cấp khoảng 5 triệu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (do cả vợ và chồng đứng tên).

Lần cập nhật gần nhất: 15 Tháng 4 Năm 2015


CÁC KHOẢN VAY

Việt Nam: Các khoản cam kết theo năm tài khóa (đơn vị: triệu đô la)*

*Các khoản tín dụng bao gồm các cam kết IBRD và IDA