Tổng Quan về Việt Nam

Trong 25 năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành quả đáng khích lệ trong quá trình phát triển. Quá trình cải cách chính trị và kinh tế trong thời kỳ Đổi mới, được phát động năm 1986, đã biến Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành một nước thu nhập trung bình thấp.

Kinh tế Việt Nam đã phát triển khá mạnh mẽ trong thời gian qua. GDP bình quân đầu người của Việt Nam thuộc nhóm tăng nhanh nhất thế giới, đạt mức 5,5% trong thập kỉ 1990 và 6,4% trong thập kỉ 2000. Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng trong năm 2015 với tốc độ tăng trưởng ước đạt 6,7%. Kinh tế Việt Nam giảm nhẹ trong nửa đầu năm 2016, với mức tăng trưởng GDP đạt 5,5%, so với 6,3% của cùng kỳ năm 2015. Sự suy giảm này được cho là kết quả tác động của đợt hạn hán nghiêm trọng ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp và

Việt Nam phát triển tương đối đồng đều – với tỉ lệ nghèo được  giảm rõ rệt và các thành quả phát triển về xã hội cũng cải thiện đáng kể về mọi mặt. Thu nhập bình quân đầu người những năm 1980 khoảng 100 USD đã tăng lên, đạt khoảng 2.100 USD năm 2015. Theo chuẩn 1,9 USD dựa trên giá cố định PPP năm 2011 thì số người nghèo cùng cực đã giảm từ trên 50% hồi đầu thập kỉ 1990 xuống còn 3% tại thời điểm hiện nay. Các chỉ số xã hội của Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt trong những thập kỷ qua, với một vài Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ (MDGs) đã đạt được trước thời hạn. Không chỉ thu nhập tăng lên mà giáo dục cũng được cải thiện và tuổi thọ trung bình của người Việt Nam cũng cao hơn hầu hết các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Tỉ lệ tử vong bà mẹ đã giảm xuống dưới mức trung bình các nước thu nhập trung bình cao, và tỉ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm một nửa, hiện chỉ nhỉnh hơn mức trung bình của các nước nhóm trên một chút. Cơ sở hạ tầng cũng cải thiện đáng kể. Đến nay, hầu hết các hộ gia đình đã có điện sử dụng, trong khi năm 1993 chưa đến một nửa số hộ gia đình được sử dụng điện. Số hộ được cấp nước sạch và dịch vụ vệ sinh cũng tăng từ dưới 50% lên trên 75%.

Mặc dù đã đạt được những thành tựu trong quá khứ, Việt Nam vẫn cần quan tâm đến công cuộc giảm nghèo. Những thành tựu giảm nghèo còn rất mong manh, vì một phần lớn trong xã hội vẫn nằm trong nhóm dễ bị tổn thương, sống gần với ngưỡng nghèo (1/3 dân số - tương đương với 30 triệu người – nằm trong nhóm “nghèo” hoặc “cận nghèo”). Nhóm nghèo và nghèo cùng cực tập tủng trong các nhóm dân tộc thiểu số. Trong khi chỉ chiếm 15% dân số, nhưng một nửa số người nghèo trên cả nước là người dân tộc thiểu số. Hơn nữa, những nhóm này lại rất dễ bị tổng thưởng bởi các cú sốc về biến đổi khí hậu, thiên tai hoặc cú sốc về kinh tế và sức khỏe.

Những nguy cơ về biến đổi khí hậu đang dần hiện hữu. Việt Nam là nước dễ bị tác động bởi biến đổi khí hậu và các thảm họa thiên nhiên, dẫn đến rủi ro lớn cho các thành quả kinh tế và phát triển trong tương lai. Việt Nam đã và đang trải qua tình trạng nhiệt độ tăng lên và nước biển dâng, những trận bão, lũ lụt và hạn hán nghiêm trọng hơn. Thiệt hại kinh tế chiếm khoảng 1 đến 1,5% GDP trong hai thập kỷ qua.

Việt Nam đã tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế khi tham gia các hiệp định thương mại tự do với Liên minh Kinh tế Á Âu, Hàn Quốc, và Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương. Đồng thời, Cộng đồng Kinh tế ASEAN cũng được thành lập ngày 31/12/2015 và sẽ mở ra nhiều cơ hội giúp Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Nhưng, trong khi hội nhập toàn cầu tiến triển tốt, gắn Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu, thì lợi ích do nó mang lại vẫn bị hạn chế do thiếu vắng mối liên kết với các doanh nghiệp trong nước.

Chính phủ Việt Nam đã thể hiện quyết tâm cải cách. Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội giai đoạn 2011-2020 tập trung vào cải cách cơ cấu, đảm bảo bền vững môi trường, công bằng xã hội cũng như các vấn đề mới nảy sinh trong quá trình ổn định kinh tế vĩ mô. Chiến lược xác định ba lĩnh vực “đột phá” bao gồm: (i) phát triển nguồn nhân lực và kĩ năng (nhất là nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghiệp hiện đại và đổi mới sáng tạo). (ii) hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, và (iii) phát triển hạ tầng. Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2015 đã cụ thể hoá ba lĩnh vực đột phá ghi trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, và tập trung sâu hơn vào ba lĩnh vực tái cơ cấu chủ chốt – ngành ngân hàng, doanh nghiệp nhà nước và đầu tư công. Đây là những lĩnh vực tái cơ cấu cần thiết để đạt mục tiêu đề ra. Bản dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2016-2020 thừa nhận tốc độ hoàn thành mục tiêu chậm chạp trong kì kế hoạch 5 năm lần trước và nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng tốc cải cách trong giai đoạn 2016-2020 nhằm hoàn thành các mục tiêu đề ra cho cả giai đoạn chiến lược 10 năm.

Lần cập nhật gần nhất: 26 Tháng 9 Năm 2016

Chiến lược Đối tác Quốc gia (CPS) 2012-2016 của Ngân hàng Thế giới theo sát các mục tiêu và ưu tiên trong Chiến lược và Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội của Chính phủ Việt Nam. CPS nhằm giúp Chính phủ thực hiện 3 đột phá chiến lược về phát triển nguồn lực con người, hoàn thiện thể chế thị trường, và đẩy mạnh phát triển hạ tầng. Chiến lược CPS hỗ trợ thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2015, trong đó bao gồm các yếu tố lựa chọn trong quá trình chuyển đổi ở bốn lĩnh vực:

·       Chuyển tiếp từ một nước thu nhập trung bình thấp trở thành một nước thu nhập trung bình thành công

·       Chuyển từ một nền kinh tế nông nghiệp trở thành một nền kinh tế đô thị hóa và công nghiệp hoá;

·       Chuyển từ tập trung vào số lượng sang tập trung vào chất lượng sản xuất và dịch vụ;

·       Và chuyển từ khai thác lợi thế tương đối của nhân công giá rẻ và giá trị gia tăng thấp sang sản xuất và dịch vụ tạo ra giá trị gia tăng cao.

Những hỗ trợ của Nhóm Ngân hàng Thế giới cho Việt Nam cũng bám sát mục tiêu kép về xóa nghèo cùng cực và thúc đẩy thịnh vượng chung. Việt Nam là một ví dụ điển hình với thành tích tăng trưởng nhanh nhưng không đi kèm giãn cách bất bình đẳng đáng kể trong thời gian gần đây. Vì vậy, chương trình nghị sự thực hiện mục tiêu kép tại Việt Nam tập trung vào 4 chủ đề ưu tiên sau đây: (i) hỗ trợ phục hồi tăng trưởng mạnh và hoà nhập; (ii) tập trung chú ý vào các vấn đề nghèo phi thu nhập; (iii) ưu tiên các cộng đồng bị gạt ra ngoài lề, cụ thể là nhóm dân tộc thiểu số; và (iv) giải quyết nguyên nhân dẫn đến tình trạng dễ bị tổn thương.

Chiến lược CPS hỗ trợ các dự án đầu tư và chính sách trong khung chiến lược gồm 3 trụ cột và 3 chủ đề xuyên suốt. Ba trụ cột bao gồm: tăng cường năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong khu vực và trên toàn cầu, (ii) tăng cường phát triển bền vững, và (iii) mở rộng cơ hội cho mọi đối tượng. Các chủ đề xuyên suốt gồm (i) tăng cường quản trị, (ii) hỗ trợ bình đẳng giới, và (iii) tăng cường khả năng chống chịu trước các cú sốc kinh tế từ bên ngoài, thiên tai và biến đổi khí hậu.

Trước những thách thức mới trong chương trình nghị sự giảm nghèo (bất bình đẳng gia tăng, nghèo đô thị, tình trạng nghèo tập trung tại vùng dân tộc thiểu số) chiến lược CPS đã tái khẳng định cam kết về giảm nghèo, trong đó phải hiểu rõ tính chất thay đổi của tình trạng nghèo để trên cơ sở đó đề ra các biện pháp giảm nghèo có mục tiêu.

Quản trị nhà nước, bình đẳng giới và tăng cường khả năng chống chịu là ba chủ đề xuyên suốt của CPS. Tất cả các hoạt động đều được xem xét dưới lăng kính quản trị và giới ngay từ giai đoạn chuẩn bị nhằm nắm bắt cơ hội tăng cường hỗ trợ trong các lĩnh vực này. Gần đây, tăng cường khả năng chống chịu đã trở thành một chủ đề quan trọng khi Việt Nam đã bị đe doạ bởi các cú sốc trên nhiều mặt: sốc bên ngoài về kinh tế cả ở cấp vĩ mô và hộ gia đình, thiên tai, và biến đổi khí hậu. Chiến lược CPS hỗ trợ tăng cường năng lực đề kháng cho Việt Nam trong các lĩnh vực cụ thể này trong từng trụ cột.

Năm 2015, Nhóm Ngân hàng Thế giới thực hiện đánh giá sơ kết CPS. Kết quả cho thấy rằng chiến lược vẫn rất phù hợp với các thách thức phát triển của Việt Nam như đã nêu trong chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và phù hợp với mục tiêu giảm nghèo và chia sẻ thịnh vượng. CPS đã đạt nhiều tiến bộ trong quá trình thực hiện các mục tiêu và kết quả đầu ra. Một báo cáo tổng kết đang được xây dựng, cùng với Khung Hợp tác Quốc gia cho Việt Nam.

Báo cáo Đánh giá Quốc gia Việt Nam 2016 (SCD) nêu rõ những ưu tiên chiến lược cụ thể có thể hỗ trợ Việt Nam xóa nghèo và thục đẩy thịnh vượng chung. Với tên gọi “Tiếp bước thành công: Các Ưu tiên cho Tăng trưởng Toàn diện và Bền vững”, báo cáo nêu bật những thành tựu và thách thức trong duy trì tăng trưởng toàn diện và tạo việc làm, cung cấp dịch vụ cho mọi người, và quản lý bền vững các nguồn tài nguyên và môi trường. Báo cáo sẽ là một trụ cột phân tích cho chương tiếp theo của mối quan hệ đối tác đang phát triển giữa Việt Nam và Ngân hàng Thế giới, giúp các nguồn lực tài chính và kiến thức tập trung vào những thách thức phát triển cấp bách nhất.

Việt Nam có khát vọng trở thành nước công nghiệp hóa hiện đại vào năm 2035. Thôi thúc bởi khát vọng này, Chính phủ Việt Nam và Ngân Hàng Thế Giới đã cùng thực hiện báo cáo Việt Nam 2035: Hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng, và Dân chủ góp phần định hình khát vọng của Việt Nam, nêu bật các thách thức phát triển chủ chốt và phác họa một loạt các khuyến nghị chính sách nhằm giúp Việt Nam hoàn thành mục tiêu năm 2035 của mình. Báo cáo Việt Nam 2035 liệt kê 6 quá trình chuyển đổi: (i) tạo điều kiện hiện đại hóa kinh tế trong đó khu vực kinh tế tư nhân có sức cạnh tranh cao nắm giữ vai trò chủ đạo; (ii) nâng cao năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo; (iii) tái định hình chính sách và đầu tư phát triển đô thị nhằm tạo ra các thành phố và trung tâm đô thị năng động; (iv) đi theo con đường phát triển bền vững môi trường, ngày càng tăng khả năng thích ứng và đề kháng trước biến đổi khí hậu; (v) thúc đẩy bình đẳng và hòa nhập trong các nhóm bị thiệt thòi hướng tới một xã hội trung lưu và phát triển hài hòa; và (vi) xây dựng một nhà nước pháp quyền hiện đại và một xã hội dân chủ.

Lần cập nhật gần nhất: 11 Tháng 4 Năm 2016

Việt Nam đang chuyển tiếp sang nền kinh tế dựa trên thị trường. Mối quan hệ đối tác giữa Ngân hàng Thế giới và Việt Nam từ năm 1993 đã đóng góp đáng kể vào việc hoàn thành các mục tiêu phát triển.

Ngân Hàng Thế Giới đã cung cấp tổng cộng 22,5 tỉ USD cho viện trợ không hoàn lại, tín dụng và vay ưu đãi cho Việt Nam tính đến thời điểm tháng 9/2016. Danh mục dự án đang hoạt động hiện nay tại Việt Nam gồm 50 dự án IDA/IBRD và 4 dự án quỹ tín thác riêng rẽ với tổng cam kết là 9,9 tỉ USD.

Năm 2009, Việt Nam nhận được khoản vay đầu tiên từ IBRD, cơ quan cho vay các nước thu nhập trung bình và có độ khả tín thấp của Ngân hàng Thế giới. Đây là món vay hỗ trợ chương trình cải cách đầu tư công. Cho đến nay IBRD đã cam kết trên 3,3 tỉ USD cho Việt Nam, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển.

Các chương trình nâng cấp đô thị đã góp phần cải tạo điều kiện sống cho hàng triệu người nghèo sống tại các thành phố. Các khu nghèo tại các thành phố thường xuyện bị ngập lụt, điều kiện vệ sinh kém và đi kèm các nguy cơ mắc bệnh và rủi ro về môi trường. Dự án nâng cấp đô thị Việt Nam đã giải quyết các thách thức như vậy tại Hải Phòng, Nam Định, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ, mang lại lợi ích cho 7,5 triệu dân. Dự án cũng cung cấp 95.000 món vay nhỏ cho các hộ gia đình thuộc nhóm 40% nghèo nhất giúp các hộ đó cải tạo nhà cửa hoặc kinh doanh tạo thu nhập. (Xem bài viết và video).

Vệ sinh đô thị là vấn đề ưu tiên được hỗ trợ. Dự án Vệ sinh Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo ra một tác động chuyển đổi, giúp cải tạo vệ sinh môi trường và giảm nạn úng lụt cho 1,2 triệu người, đồng thời dự án đã làm cho cảnh quan khu vực trở thành một tài sản mới của thành phố, nơi người dân thành phố có thể nghỉ ngơi, tận hưởng bầu không khí trong lành. (Xem bài viết và video)Dự án Vệ sinh môi trường các thành phố ven biển thực hiện thoát nước, xây dựng các công trình thu gom và xử lý nước thải và chất thải rắn, và thực hiện một chương trình nâng cao năng lực toàn diện, mang lại lợi ích cho 800.000 người dân. (Đọc bài viết)

Công tác trồng rừng cũng mang lại nhiều lợi ích về xã hội, môi trường và kinh tế cho cộng đồng. Từ 2005 đến 2015, đã có trên 43.000 hộ gia đình tại 6 tỉnh miền Trung Việt Nam được vay món vay nhỏ, được hỗ trợ kỹ thuật và trồng được 76.500 ha rừng trong Dự án phát triển lâm nghiệp. Đây là dự án đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam thực hiện cho vay trồng rừng qui mô nhỏ. Thực tế đã chứng tỏ phương pháp này bền vững hơn so với phương pháp trợ vốn trồng rừng truyền thống tại Việt Nam. (Xem bài viết, video và ảnh).

Cơ hội tiếp cận các dịch vụ tín dụng nông thôn được cải thiện đáng kể: Trong hơn một thập kỷ qua, lần đầu tiên, số hộ gia đình nông thôn có cơ hội tiếp cận các dịch vụ tín dụng – nhằm hỗ trợ các hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như kinh doanh nhỏ - đã tăng lên đáng kể. Các Dự án Cấp vốn Nông thôn giai đoạn một, giai đoạn haigiai đoạn ba đã đóng góp vào quá trình này và giúp tăng cường năng lực một số thể chế tài chính nông thôn. Hai dự án lần thứ hai và thứ ba đã cấp vốn cho 535.000 tiểu dự án, thu hút 1,23 tỉ USD tiền vốn và giúp tạo thêm việc làm mới (Xem bài viết). Trên 1/3 số người vay trong dự án cấp vốn lần ba là những người lần đầu tiếp cận vay vốn tín dụng từ cơ sở chính thức và trên một nửa số người vay là phụ nữ.

Các dịch vụ cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn được mở rộng: Nguồn cung cấp nước sạch tại các thị xã nhỏ tăng gấp đôi lên đến 60% trong giai đoạn 2006 đến 2009, và tại các thành phố lớn trong cùng kỳ, nguồn cung tăng từ 75% lên tới 95%. Các khu vực nông thôn được tiếp cận nguồn nước sạch tăng từ 36% năm 1999 lên tới 70% năm 2009. Ngân hàng Thế giới đã đóng góp để hỗ trợ Việt Nam đạt được những con số phát triển này thông qua các khoản đầu tư vào dự án cung nước sạch và vệ sinh môi trường khu vực Đồng bằng sông Hồng và các sáng kiến như dựa vào kết quả đầu ra trên toàn cầu của Tổ chức Đông Tây Hội ngội (EMW). Trong khoảng thời gian 2005 và 2013, Dự án Cấp nước sạch và Vệ sinh Nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng đã cung cấp nước sạch cho 1,3 triệu người tại 4 tỉnh thông qua cách tiếp cận dựa trên cộng đồng. Các hộ gia đình được vay tiền với lãi suất thấp nhằm xây mới hoặc cải tạo trên 48.000 nhà vệ sinh, nâng tỉ lệ hộ có nhà vệ sinh từ 25% lên 87%. (Xem video và bài viết)

Năng lực cảnh báo thảm họa sớm, năng lực dự báo, và năng lực quản lý rủi ro đã được cải thiện. Dự án Quản lý Rủi ro Thiên tai đã triển khai tại 12 tỉnh, giúp xây dựng 11 công trình giảm nhẹ bão lũ như cảng tránh bão, đê sông, đường lánh nạn, trạm bơm tiêu úng. Trên 210.000 người tại 30 xã thực hiện các biện pháp công trình bao gồm các trung tâm sơ tán đa dụng, kênh thoát nước và các biện pháp phi công trình như xây dựng kế hoạch làng xã an toàn, thực tập sơ tán. (xem bài viết và ảnh).

95% dân số được sử dụng lưới điện quốc gia: Cứ mỗi ngày trong vòng 10 năm qua, 9.000 người dân tại Việt nam được kết nối với lưới điện quốc gia lần đầu tiên. Công suất phát điện tại Việt nam đã tăng gấp hai lần từ 12.000 MW năm 2005 lên tới 25,000 MW năm 2010. Với sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới cho Dự án Năng lượng Nông thôn 2 (Tiếng Anh), hơn 2,7 triệu người thuộc 555.327 hộ gia đình tại một số khu vực nghèo nhất của Việt nam có cơ hội được hòa vào lưới điện quốc gia (xem video bằng Tiếng Anh).

Hơn 90% dân số có cơ hội giao thương bởi các tuyến đường nhựa: Được triển khai tại 33 tỉnh thành, Dự án Giao thông Nông thôn 3 (Tiếng Anh) đang xúc tiến triển khai tại một số khu vực đồi núi khó khăn nhất tại các tỉnh miền Bắc Việt nam, kết nối các cộng đồng nghèo điều kiện khó khăn với các thị trường buôn bán và dịch vụ tốt hơn. Với mức đầu tư trung bình bằng khoảng 4,5% GPD, Việt nam là nhà đầu tư lớn tại châu Á vào cơ sở hạ tầng giao thông nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển, giúp các thành phố và tỉnh thành có cơ hội giao thương để từ đó giúp người dân thoát nghèo. (xem video bằng Tiếng Anh)

Cải thiện mức sống vùng núi và vùng sâu vùng xa: Được tài trợ từ Dự án giảm nghèo các tỉnh vùng núi phía Bắc giai đoạn 1 (Tiếng Anh), đã có 353.871 hộ gia đình được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn, hơn 118.000 hộ gia đình được sử dụng nước sạch, nhờ đó mà điều kiện sức khỏe của người dân địa phương được nâng cao đáng kể. Giai đoạn hai của dự án sẽ được xây dựng dựa trên những kết quả đạt được ban đầu này, đồng thời sẽ đẩy mạnh hơn nữa việc đào tạo kỹ năng ứng phó trước các rủi ro thảm họa trong cộng đồng, và triển khai thí điểm các sáng kiến dịch vụ liên kết thị trường. Thu nhập của các hộ gia đình tham gia dự án đã tăng 10% và cao hơn so với thu nhập trung bình của các xã ngoài vùng dự án. Gần 80% các nhóm đồng sở thích cho biết họ được kết nối tốt hơn với thông tin về thị trường và có năng suất cao hơn. (Xem bài viết và video)

Tỉ lệ trẻ đến trường ở bậc tiểu học đạt 99% và tỉ lệ đến trường của trẻ em trai và gái ngày càng cân bằng. Tỷ lệ học sinh tiểu học được đi học trên cả nước tăng từ 25% lên tới 50% năm 2005. Các bài học gần gũi với cuộc sống cung cấp cho học sinh dân tộc thiểu số ở 49 trường tiểu học một phương pháp tiếp cận theo hướng thực hành nhiều hơn. Mô hình trường học mới sử dụng các phương pháp dạy và học sáng tạo đã được thử nghiệm ở 1.447 trường tiểu học tại 63 tỉnh. Sau ba năm thực hiện, có thêm khoảng 2.000 trường tiểu học nữa tự nguyện áp dụng mô hình này. (Xem bài viết và video)

Các cơ sở giáo dục đại học được trao quyền tự chủ nhiều hơn, đồng thời có trách nhiệm giải trình cao hơn. Dự án hỗ trợ xây dựng khung pháp lý nhằm giao quyền tự chủ và ràng buộc trách nhiệm nhiều hơn cho các cơ sở giáo dục đại học như quyết định số về số lượng tuyển sinh, nội dung đào tạo, mở chương trình đào tạo mới, áp dụng chương trình đào tạo dựa trên tín dụng sinh viên, lập báo cáo tài chính hàng năm. (Đọc bài viết)

Điều kiện y tế và tiếp cận dịch vụ y tế đã được cải thiện. Nhờ Dự án Hỗ trợ Y tế Đồng bằng sông Cửu Long, các cơ sở và dịch vụ y tế đã được cải thiện mang lại lợi ích cho 16 triệu người trong vùng. Trong số đó có 2,5 triệu người được hưởng dịch vụ bảo hiểm y tế tốt hơn. Khoảng 10.000 nhân viên y tế được đào tạo nâng cao tay nghề giúp thỏa mãn nhu cầu tại địa phương. Dự án Phòng chống HIV/AIDS đã góp phần giúp giữ tỉ lệ HIV/AIDS tại Việt Nam ở mức dưới 0,3% dân số. (Xem video).

Quyền sở hữu đất đai của phụ nữ tăng cao hơn: Sau thành công của hai dự án được triển khai thí điểm do Ngân hàng Thế giới tài trợ đầu những năm 2000, Chính phủ Việt nam đã thông qua Luật đất đai quy định tất cả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng (xem video bằng Tiếng Anh). Dự án Quản lý Đất đai Việt Nam (Tiếng Anh) được tài trợ bởi Ngân hàng Thế giới nhằm mục đích đến năm 2013 có thể cấp khoảng 5 triệu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (do cả vợ và chồng đứng tên).

Lần cập nhật gần nhất: 26 Tháng 9 Năm 2016


CÁC KHOẢN VAY

Việt Nam: Các khoản cam kết theo năm tài khóa (đơn vị: triệu đô la)*

*Các khoản tín dụng bao gồm các cam kết IBRD và IDA