Tổng Quan về Việt Nam

  • Trong 30 năm qua Việt Nam đã đạt thành tích phát triển đáng ghi nhận. Bắt đầu từ năm 1986, cải cách kinh tế và chính trị thời kì Đổi mới đã thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh chóng và biến Việt nam từ một trong các nước nghèo nhất thế giới trở thành nước thu nhập trung bình thấp.

    Kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng mạnh. Kể từ năm 1990, Việt Nam là một trong những nước có mức tăng trưởng GDP bình quân đầu người nhanh nhất thế giới, trung bình 6.4%/năm trong những năm 2000. Mặc dù môi trường toàn cầu còn nhiều bất ổn, nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì sức bật tốt. Triển vọng trung hạn vẫn thuận lợi, với mức tăng trưởng GDP là 6% trong năm 2016, và các nền tảng tăng trưởng – gồm cầu trong nước và công nghiệp chế tạo hướng xuất khẩu – vẫn mạnh và ổn định.

    Thành quả tăng trưởng đã được phân phối đồng đều, trong đó tỉ lệ nghèo đã giảm mạnh, và phúc lợi xã hội cũng được tăng cường đáng kể. Vào thời điểm năm 1993, hơn một nửa dân số sống dưới mức 1,90 USD/ngày. Ngày nay, tỉ lệ nghèo cùng cực đã giảm xuống còn 3%. Tỉ lệ dân số sống dưới chuẩn nghèo quốc gia (do Ngân hàng thế giới và Tổng cục thống kê xác định) giảm xuống còn 13,5% trong năm 2014, trong khi tỉ lệ này năm 1993 là 60%. Trong hai thập kỷ vừa qua, hơn 40 triệu người dân Việt Nam đã thoát nghèo.

    Việt Nam đã đạt tiến bộ đáng kể trong việc cung cấp các dịch vụ cơ bản. Người dân Việt Nam ngày nay có dân trí cao hơn và sức khỏe tốt hơn so với cách đây 20 năm—và những tiến bộ này được chia đều trong toàn xã hội. Thành tích giáo dục đạt mức cao, kể cả giáo dục tiểu học. Tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh và trẻ dưới 5 tuổi đã giảm mạnh trong 20 năm qua xuống còn 19 và 24 phần nghìn vào năm 2012. Tỉ lệ còi xương cũng giảm rõ rệt từ 61% vào năm 1993 xuống còn 23% vào năm 2012. Tuổi thọ tự nhiên bình quân hiện nay là 76 tuổi, so với 71 tuổi vào năm 1993.

    Dịch vụ thiết yếu cũng được cải thiện đáng kể. Trong giai đoạn 1993 – 2012 Việt Nam đã đạt được những bước tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực này. Ví dụ, hiện nay 99% dân số đã có điện thắp sáng, so với 14% thời kỳ 20 năm trước đây. Hiện nay, trên 67% dân số nông thôn có công trình vệ sinh và hơn 61% sử dụng nước sạch trong khi tỉ lệ tương ứng 2 thập kỉ trước là 36% và 17%.

    Nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức và hạn chế. Thành tích giảm nghèo còn mong manh. Một phần lớn người dân, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, và các nhóm dân tộc thiểu số rất dễ bị tái nghèo trở lại.

    Tăng năng suất lao động – động lực chính đóng góp vào tăng trưởng GDP trong thập kỷ 1990 – đã suy giảm trong 10 năm vừa qua. Do tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động chậm lại nên mức tăng năng suất lao động sẽ không đủ giúp Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng mong muốn.

     Đồng thời, tuy kinh tế vĩ mô nhìn chung vẫn ổn định, nhưng một số yếu kém, ví dụ mất cân đối tài khóa, nợ xấu chưa giải quyết trong ngành ngân hàng đòi hỏi phải quan tâm giải quyết. Phát triển kinh tế tư nhân mạnh lên và đẩy nhanh cải cách doanh nghiệp nhà nước sẽ có tác động thúc đẩy tăng trưởng.

    Đô thị hóa cũng thúc đẩy tăng trưởng, nhưng muốn đạt mức độ tập trung đô thị cao hơn đòi hỏi phải cập nhật mô hình đô thị hóa hiện nay. Các khoản đầu tư lớn trong thời gian qua đã tạo bước khởi đầu tốt nhưng vẫn cần mở rộng thêm hạ tầng phục vụ sản xuất, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông, nước, vệ sinh và viễn thông. Cần tiếp tục hiện đại hóa nông nghiệp vì đây vẫn sẽ là một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và giảm nghèo tại Việt Nam trong nhiều năm tới.

     Chính phủ Việt Nam tiếp tục thể hiện cam kết cải cách. Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội 10 năm, giai đoạn 2011 – 2020 nhấn mạnh sự cần thiết phải thực hiện tái cơ cấu, đảm bảo bền vững môi trường, công bằng xã hội và giải quyết các vấn đề mới nảy sinh về ổn định kinh tế vĩ mô. Chiến lược xác định rõ ba “lĩnh vực đột phá” gồm: (i) thúc đẩy phát triển kĩ năng, đáp ứng đòi hỏi của một nền công nghiệp hiện đại và đổi mới sáng tạo; (ii) hoàn thiện các thể chế thị trường, và (iii) tiếp tục phát triển cơ sở hạ tầng. Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội giai đoạn 2016 – 2020 phê duyệt tháng 4 năm 2016, thừa nhận chậm thực hiện một số ưu tiên chính sách và đòi hỏi phải đẩy nhanh cải cách.

    Lần cập nhật gần nhất: 13 Tháng 4 Năm 2017

  • Nhóm Ngân hàng Thế giới (WBG) đang xây dựng Chiến lược đối tác quốc gia (CPF) mới nhằm định hướng các hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn 2018-2022. Chiến lược này thể hiện các lĩnh vực ưu tiên nêu trong Báo cáo Đánh giá Quốc gia Việt Nam 2016 của WGB, Báo cáo Việt Nam 2035, và Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội giai đoạn 2016 – 2020 của Chính phủ Việt Nam. Trên cơ sở đó, chiến lược sẽ tập trung vào 3 lĩnh vực trọng điểm:

    • Tạo điều kiện tăng trưởng hoà nhập và giúp kinh tế tư nhân nhiều hơn;
    • Đầu tư vào con người và tri thức; và
    • Đảm bảo bền vững và năng lực ứng phó về môi trường.

    Phát huy các hoạt động sâu, rộng của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, văn kiện CPF mới đã đề xuất một số chuyển hướng chiến lược nhằm bắt kịp những thay đổi, cơ hội và thách thức trong tiến trình phát triển của Việt Nam và những vấn đề ưu tiên giải quyết của chính phủ. Những chuyển hướng chiến lược của WGB trong giai đoạn tới bao gồm:

    • Hỗ trợ toàn diện nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân và sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân trong các ngành;
    • Hỗ trợ đảm bảo bền vững tài chính trong cung cấp dịch vụ công;
    • Hỗ trợ tiếp tục giảm nghèo trong nhóm dân tộc thiểu số thông qua các hoạt động tạo thu nhập;
    • Hỗ trợ đa ngành nhằm tăng cường mối liên kết giữa giáo dục đào tạo và phát triển lực lượng lao động; và
    • Hỗ trợ thúc đẩy sản xuất năng lượng ít phát thải các-bon.

    Hoạt động của WBG tại Việt Nam cũng góp phần thực hiện mục tiêu kép của WBG về giảm nghèo cùng cực và chia sẻ thịnh vượng. Việt Nam là một ví dụ điển hình về tăng trưởng nhanh đồng thời không bị giãn cách khoảng cách giàu nghèo quá lớn.

    Báo cáo Đánh giá Quốc gia Việt Nam 2016 (SCD) đã thực hiện phân tích tình hình nhằm cung cấp thông tin đầu vào phục vụ xây dựng chiến lược của WBG tại Việt Nam trong 5 năm tới. Báo cáo đã xác định những ưu tiên chiến lược giúp Việt Nam thực hiện giảm nghèo và tăng cường chia sẻ thịnh vượng. Với tiêu đề Tiếp bước thành công – Nhóm ưu tiên tăng trưởng toàn diện và bền vững, báo cáo đã nêu rõ những thành tựu và thách thức trong công cuộc đảm bảo tăng trưởng toàn diện, tạo việc làm, cung cấp dịch vụ cho mọi giai tầng, và quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững.

    Báo cáo Đánh giá Quốc gia cũng phản ánh ước vọng của Việt Nam muốn trở thành một quốc gia hiện đại và công nghiệp hoá vào năm 2035. Đây cũng chính là những ước vọng thúc đẩy công tác xây dựng báo cáo Việt Nam 2035: Hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, và Dân chủBáo cáo do Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới cùng soạn thảo, trong đó đề ra các mục tiêu, xác định những thách thức phát triển cần giải quyết, và những khuyến nghị chính sách cần thiết để hoàn thành mục tiêu đề ra vào năm 2035.

    Báo cáo Việt Nam 2035 đã phác thảo 6 lĩnh vực cần thực hiện chuyển đổi. Thứ nhất, hiện đại hoá nền kinh tế, trong đó khu vực kinh tế tư nhân có năng lực cạnh tranh cao và đóng vai trò đầu tàu. Thứ hai, nâng cao năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thứ ba, thay đổi chính sách phát triển đô thị và đầu tư nhằm biến các thành phố và các trung tâm đô thị thành những trung tâm tăng trưởng năng động hơn. Đồng thời, cần đảm bảo bền vững môi trường, tăng cường thích ứng và năng lực ứng phó trước biến đổi khí hậu. Các lĩnh vực chuyển đổi khác bao gồm thúc đẩy bình đẳng và hoà nhập trong nhóm yếu thế trong quá trình phát triển một xã hội trung lưu hài hoà, và xây dựng một nhà nước pháp quyền và xã hội dân chủ.

    Lần cập nhật gần nhất: 13 Tháng 4 Năm 2017

  • Việt Nam đang chuyển tiếp sang nền kinh tế dựa trên thị trường. Mối quan hệ đối tác giữa Ngân hàng Thế giới và Việt Nam từ năm 1993 đã đóng góp đáng kể vào việc hoàn thành các mục tiêu phát triển.

    Tính đến thời điểm tháng 3/2017 Ngân Hàng Thế Giới đã cung cấp tổng cộng 22,5 tỉ USD gồm viện trợ không hoàn lại, tín dụng và vay ưu đãi cho Việt Nam. Danh mục dự án đang hoạt động hiện nay tại Việt Nam gồm 50 dự án IDA/IBRD và 4 dự án quỹ tín thác riêng rẽ với tổng cam kết ròng là 9,5 tỉ USD.

    Năm 2009, Việt Nam nhận được khoản vay đầu tiên từ IBRD, cơ quan cho vay các nước thu nhập trung bình của Ngân hàng Thế giới. Đây là món vay hỗ trợ chương trình cải cách đầu tư công. Cho đến nay IBRD đã cam kết trên 3,3 tỉ USD cho Việt Nam, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển.

    Với nguồn vốn và kinh nghiệm của Ngân hàng Thế giới, trong vòng 4 năm Việt Nam đã triển khai chương trình học bán trú tại trường mầm non cho 84% trẻ em 5 tuổi so với 64% năm 2011. Chất lượng giảng dạy tại các trường mầm non đã được cải thiện nhờ chương trình nâng cao nghiệp vụ Giáo dục sớm (ECE) cho giáo viên và cán bộ quản lý. Trên 2.000 giáo viên nòng cốt đã được tập huấn để truyền thụ lại nghiệp vụ ECE cho 250.000 giáo viên khác theo phương pháp lấy trẻ em làm trung tâm, (xem thêm thông tin tại đây).

    Việt Nam đang thực hiện cải cách và đầu tư nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh và tăng cường năng lực ứng phó biến đổi khí hậu. Kể từ khi ký kết Hiệp định Paris Việt Nam đã thực hiện nhiều bước đi quyết định. Quan hệ đối tác với Ngân hàng Thế giới giữ vai trò quan trọng, giúp hoàn thành mục tiêu về Đóng góp Quốc gia của Việt Nam nhờ huy động nguồn lực, cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và giúp thực hiện các thay đổi chính sách, (xem thêm thông tin tại đây).

    Tăng cường luật pháp và chính sách giải quyết các vấn đề xung đột lợi ích nổi cộm, ví dụ nạn biếu xén, chủ nghĩa thân hữu, sử dụng thông tin nội bộ để trục lợi cá nhân, sẽ góp phần tăng cường tính liêm chính và hiệu quả trong bộ máy công quyền. Một báo cáo do Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới thực hiện gần đây cùng với sự hỗ trợ của Anh quốc đã phân tích sâu các biện pháp cải cách chính sách có thể giải quyết xung đột lợi ích, kể cả cải cách pháp lý, (xem và tải báo cáo tại đây).

    Các chương trình nâng cấp đô thị đã góp phần cải tạo điều kiện sống cho hàng triệu người nghèo sống tại các thành phố. Các khu nghèo tại các thành phố thường xuyên bị ngập lụt, điều kiện vệ sinh kém và đi kèm các nguy cơ mắc bệnh và rủi ro về môi trường. Dự án Nâng cấp đô thị Việt Nam đã giải quyết các thách thức nêu trên tại Hải Phòng, Nam Định, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ, mang lại lợi ích cho 7,5 triệu dân. Dự án cũng cung cấp 95.000 món vay nhỏ cho các hộ gia đình thuộc nhóm 40% nghèo nhất, giúp các hộ đó cải tạo nhà cửa hoặc tạo thu nhập, (xem bài viết và video).

    Vệ sinh đô thị là một lĩnh vực ưu tiên hỗ trợ. Dự án Vệ sinh Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh đã mang lại lợi ích trực tiếp cho 1,2 triệu người, đồng thời cải tạo vệ sinh môi trường và tăng cường phòng chống ngập lụt (xem bài viết và video). Dự án Vệ sinh môi trường các thành phố ven biển thực hiện xây dựng các công trình thoát nước, thu gom và xử lý nước thải và chất thải rắn, và thực hiện một chương trình nâng cao năng lực toàn diện, mang lại lợi ích cho 800.000 người dân tại Đồng Hới, Quy Nhơn và Nha Trang. (xem kết quả tại đây).

    Công tác trồng rừng là một nguồn mang lại thu nhập quan trọng cho các hộ gia đình nghèo. Từ 2005 đến 2015, đã có trên 43.000 hộ gia đình tại 6 tỉnh miền Trung Việt Nam được vay món vay nhỏ, và hỗ trợ kỹ thuật về trồng rừng. Dự án phát triển lâm nghiệp đã hỗ trợ trồng 76.500 ha rừng. Đây là dự án đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam thực hiện cho vay trồng rừng qui mô nhỏ. Thực tế đã chứng tỏ phương pháp này bền vững hơn so với phương pháp trợ vốn trồng rừng truyền thống tại Việt Nam. (xem bài viết, video và ảnh tại đây).

    Các cơ sở cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn được mở rộng. Nguồn cung cấp nước sạch tại các thị xã nhỏ tăng gấp đôi và đạt 60% trong giai đoạn 2006 đến 2009, và tại các thành phố lớn nguồn cung tăng từ 75% lên 95% trong cùng kỳ. Tỉ lệ cấp nước sạch tại địa bàn nông thôn tăng từ 36% lên 70% trong giai đoạn 1999 – 2009. Ngân hàng Thế giới đã giúp đỡ thông qua các khoản đầu tư về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng, và thông qua các chương trình đầy sáng tạo như Dự án Toàn cầu Dựa trên Kết quả Đầu ra cùng hợp tác thực hiện với Quỹ Đông Tây. Trong giai đoạn 2005 – 2013, Dự án Cấp nước và Vệ sinh Môi trường Nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng đã áp dụng cách tiếp cận dựa trên cộng đồng và hỗ trợ 1,3 triệu người tại 4 tỉnh thực hiện dự án. Các hộ gia đình đã được vay vốn với lãi suất thấp để xây dựng và cải tạo 48.000 công trình vệ sinh, nâng tỉ lệ hộ có công trình vệ sinh đạt chuẩn từ 25% lên 87%, (xem video và đọc bài tại đây).

    Năng lực dự báo và cảnh báo thảm họa sớm phục vụ quản lý rủi ro đồng bộ không ngừng cải thiện. Dự án Quản lý Rủi ro Thiên tai đã triển khai tại 12 tỉnh, giúp xây dựng 11 công trình giảm nhẹ bão lũ như cảng tránh bão, đê sông, đường lánh nạn, trạm bơm tiêu úng. Trên 210.000 người tại 30 xã thực hiện các biện pháp công trình bao gồm các trung tâm sơ tán đa dụng, kênh thoát nước và các biện pháp phi công trình như xây dựng Kế hoạch Làng xã An toàn, thực tập sơ tán, (xem bài viết và ảnh tại đây).

    95% dân số đã có điện dùng: Trong vòng 10 năm qua, cứ mỗi ngày lại có thêm 9.000 người dân tại Việt nam được kết nối với lưới điện quốc gia. Công suất phát điện tại Việt nam đã tăng gấp hai lần và đạt 25.000 MW năm 2010. Với sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới cho Dự án Năng lượng Nông thôn 2 hơn 2,7 triệu người tại các khu vực nghèo nhất của Việt nam đã có điện dùng, (xem video tại đây).

    Dự án Giao thông Nông thôn 3 được thực hiện tại 33 tỉnh, đặc biệt là tại các tỉnh khó khăn nhất tại  vùng núi phía Bắc Việt Nam đã tạo kết nối tốt hơn cho các cộng đồng nghèo và khó khăn với thị trường và nguồn cung ứng dịch vụ. Hiện nay trên 90% dân số đã được kết nối với đường cấp phối. Với mức đầu tư trung bình bằng khoảng 4,5% GPD, Việt nam là nước có mức đầu tư lớn tại châu Á vào cơ sở hạ tầng giao thông, (xem video).

    Tỉ lệ tai nạn xe cơ giới 0,65 ‰ hàng năm hiện đang là mối quan ngại lớn tại Việt Nam. Dự án An toàn Giao thông Đường bộ Việt Nam đang phối hợp với các ngành y tế, giáo dục, công an và các cơ quan quản lý đường bộ nhằm giảm bớt tỉ lệ tai nạn giao thông thuộc hàng cao nhất thế giới như vừa nêu. Con số thống kê cho thấy hiện nay 95% người đi xe máy đã đội mũ bảo hiểm. 

    Dự án giảm nghèo các tỉnh vùng núi phía Bắc giai đoạn 1 đã hỗ trợ nâng cao chất lượng cuộc sống người dân các tỉnh vùng núi phía Bắc.  Kết quả cụ thể gồm có: 118.000 nghìn hộ gia đình được cấp nước sạch, và trên 350.000 hộ gia đình được hưởng dịch vụ y tế tốt hơn. Giai đoạn hai của dự án sẽ được xây dựng dựa trên những kết quả đạt được ban đầu này, đồng thời sẽ đẩy mạnh hơn nữa công tác cbuẩn bị ứng phó rủi ro thảm họa trong cộng đồng, và triển khai thí điểm các sáng kiến dịch vụ liên kết thị trường. Nhờ vậy, thu nhập của các hộ gia đình trong vùng dự án đã tăng ít nhất 10% so với các xã ngoài vùng dự án. Gần 80% các tổ sản xuất của nông dân cho biết họ được kết nối tốt hơn với thị trường và đạt năng suất cao hơn, (xem bài viết và video).

    Tỉ lệ trẻ đến trường ở bậc tiểu học đạt 99% và tỉ lệ đến trường của trẻ em trai và gái ngày càng cân bằng. Tỷ lệ học sinh tiểu học tham gia học bán trú trên cả nước tăng từ 25% năm 2005 lên tới 50%. Tỉ lệ đến trường tại các huyện nghèo đạt 94%, và tỉ lệ đi học của các em gái đã đạt 78%, cao hơn mức 77% của học sinh nam. 49 trưởng tiểu học thực hiện giảng dạy các bài học gần gũi với cuộc sống giúp học sinh dân tộc thiểu số học tập theo phương pháp thiết thực hơn. Mô hình Trường học mới áp dụng các phương pháp dạy và học sáng tạo đã được thử nghiệm ở 1.447 trường tiểu học tại 63 tỉnh. Sau ba năm thực hiện, có thêm khoảng 2.000 trường tiểu học nữa tự nguyện áp dụng mô hình này, (xem bài viết và video).

    Các cơ sở giáo dục đại học được trao quyền tự chủ nhiều hơn, đồng thời gắn với trách nhiệm giải trình cao hơn. Một loạt ba hoạt động phát triển đã hỗ trợ xây dựng một khung pháp lý mới trao quyền tự chủ nhiều hơn và đồng thời ràng buộc trách nhiệm nhiều hơn từ các cơ sở giáo dục đại học, ví dụ quyết định về số lượng tuyển sinh, nội dung đào tạo, mở chương trình đào tạo mới, tuyển dụng và giữ chân cán bộ, công khai báo cáo tài chính hàng năm, kết quả tuyển dụng và học tập, (xem bài viết).

    Quyền sở hữu đất đai của phụ nữ được phát huy tốt hơn. Sau thành công của hai dự án thí điểm do Ngân hàng Thế giới tài trợ đầu những năm 2000, Chính phủ Việt nam đã thông qua Luật đất đai trong đó quy định tất cả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi cả tên chồng và vợ (xem video). Dự án Quản lý Đất đai Việt Nam do Ngân hàng Thế giới tài trợ nhằm mục tiêu cấp 5 triệu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chung cả vợ và chồng vào năm 2013.

    Lần cập nhật gần nhất: 13 Tháng 4 Năm 2017

Api


CÁC KHOẢN VAY

Việt Nam: Các khoản cam kết theo năm tài khóa (đơn vị: triệu đô la)*

*Các khoản tín dụng bao gồm các cam kết IBRD và IDA


KHO ẢNH

Ảnh khác Arrow

Chuyên đề

Image

Kinh tế tích cực, triển vọng trung hạn ổn định

Báo cáo mới ghi nhận chuyển biến kinh tế tích cực, dần lấy lại đà tăng trưởng, và gợi ý chính sách nhằm xử lý trở ngại tăng trưởng có tí...

Image

Báo cáo Việt Nam 2035

Báo cáo phác thảo con đường để Việt Nam trở thành một quốc gia giàu có và hiện đại, mang lại sự thịnh vượng cho mọi người đến năm 2035.

Image

Quan hệ đối tác vững mạnh vì TP. HCM xanh, cạnh tranh và đảm bảo ích lợi cho ...

Ngân hàng Thế giới giúp làm sạch các dòng kênh, cải tạo các khu thu nhập thấp, cải thiện tình hình nước sạch và VSMT và đưa một số chính ...

Image
Năng lượng

Dự án Thủy điện Trung Sơn: Đáp ứng nhu cầu thủy điện ngày càng tăng

Dự án sẽ đóng góp thêm 1.055 GWh vào lưới điện quốc gia, và tạo việc làm, cung cấp các dịch vụ cơ bản cho hơn 2.000 người dân sống ở khu ...

Image

Việt Nam: Trước và sau thực hiện dự án do Ngân hàng Thế giới hỗ trợ

Mô hình phát triển của Việt Nam giúp hàng triệu người thoát nghèo và cải thiện đời sống người dân. Một số kết quả đạt được nhờ các dự án ...

Thông tin thêm

Liên hệ văn phòng quốc gia

Hà Nội, +84.2439346600
Tầng 8, Tòa nhà 63 Lý Thái Tổ, Hà Nội, Việt Nam.
vietnam@worldbank.org
Washington, +1 202-473-4709
1818 H Street NW, Washington, DC 20433
eastasiapacific@worldbank.org