Liên hệ văn phòng quốc gia
Hà Nội, (84-4) 3934-6600

Tầng 8, Tòa nhà 63 Lý Thái Tổ, Hà Nội, Việt Nam.
vietnam@worldbank.org

Washington, +1 202-473-4709

1818 H Street NW, Washington, DC 20433
eastasiapacific@worldbank.org

Trang này bằng:

Tổng Quan về Việt Nam

Việt Nam là một câu chuyện thành công về quá trình phát triển. Công cuộc Đổi mới kinh tế và chính trị bắt đầu triển khai từ năm 1986 đã đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới với thu nhập bình quân đầu người dưới 100 đô la Mỹ, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp chỉ trong vòng 25 năm với thu nhập đầu người lên tới 1.130 đô la Mỹ vào cuối năm 2010. Tỷ lệ dân nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống còn 14,5% vào năm 2008, đồng thời các chỉ số an sinh xã hội khác cũng được cải thiện đáng kể. Việt Nam đã đạt được 5 trong số 10 Mục tiêu Phát triển Quốc gia Thiện nhiên kỷ ban đầu và đang tiến triển rất tốt để có thể đạt thêm 2 Mục tiêu nữa trước năm 2015.

Việt Nam cũng được đánh giá cao về khả năng phát triển đồng đều tốt hơn hầu hết các quốc gia khác với điều kiện tương tự. Đồng thời, Việt Nam đang ngày càng khẳng định vị trí và vai trò của mình trên trường khu vực và quốc tế, bằng việc chủ tọa thành công Hội nghị thường niên 2009 Hội đồng Thống đốc Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ IMF, và đóng vai trò Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nhiệm kỳ 2010.

Đại hội Đảng lần thứ XI được tổ chức vào tháng 1/2011 đã đưa ra một phương thức tiếp cận toàn diện hơn trong quá trình đổi mới đất nước. Đại hội thống nhất cần đẩy mạnh sự tham gia và bảo đảm đồng thuận cao của nhân dân đối với các vấn đề trong nước cũng như tích cực đóng góp vào quá trình hội nhập quốc tế. Đại hội khẳng định một lần nữa vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong quá trình phát triển đất nước, tuy nhiên cũng đã sửa đổi một số văn kiện chính sách quan trọng tập trung hơn vào các quy chế thị trường và các tài sản kinh tế không thuộc quyền sở hữu nhà nước.

Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội (SEDS) giai đoạn 2011-2020 sẽ tập trung vào cải cách cấu trúc, bền vững môi trường, bình đẳng xã hội cũng như các vấn đề mới nổi trong việc ổn định kinh tế vĩ mô. Chiến lược xác định ba lĩnh vực “đột phá” bao gồm: (i) Phát triển nhanh nguồn nhân lực (nhất là nguồn nhân lực phục vụ các ngành công nghiệp hiện đại và đổi mới căn bản). (ii) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, và (iii) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng. Mục tiêu tổng quát với Việt nam là phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Trong hơn 25 năm qua, môi trường chính trị và xã hội tại Việt nam từng bước được phát triển theo hướng cởi mở và tạo điều kiện cho người dân phát huy vai trò tham gia tích cực hơn. Vai trò kiểm tra giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ ngày càng được nâng cao. Mặc dù vậy, Việt nam vẫn cần đẩy mạnh và phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân, mở rộng dân chủ trực tiếp trong quản lý điều hành để từng bước đạt được mục tiêu trở thành một quốc gia công nghiệp hóa theo hướng hiện đại.

Gần đây nhất, kết luận tại phiên họp toàn thể của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản vào tháng 10/2011 cho rằng cần phải thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế và xác định tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước và lĩnh vực tài chính là ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn 5 năm tới.

 

Thống nhất với các ưu tiên và mục tiêu chiến lược tổng quát mà Chính phủ đã đặt ra, Chiến lược Đối tác Quốc gia (Tiếng Anh) của Ngân hàng Thế giới (CPS) giai đoạn 2012 – 2016 sẽ hỗ trợ Việt nam trong việc triển khai ba khâu đột phát chiến lược bao gồm phát triển nhanh nguồn nhân lực, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và xây dựng hệ thống kết cấu cơ sở hạ tầng.

Chiến lược của Ngân hàng Thế giới sẽ áp dụng một số nguyên tắc mới nhằm cải thiện hơn hiệu quả của việc hỗ trợ: (i) tăng cường tập trung chiến lược, giảm bớt sự dàn trải các chương trình hỗ trợ bằng cách tăng cường tính chọn lọc, (ii) cải thiện hiệu quả hoạt động, áp dụng các phương pháp tiếp cận có hệ thống, tạo hiệu quả hơn cho nguồn lực thông qua tăng cường đối thoại chính sách và áp dụng các hoạt động phân tích và tư vấn (AAA) cùng với các đối tác phát triển khác cũng như với các thành viên trong nhóm Ngân hàng Thế giới, và (iii) đẩy mạnh thực hiện dự án nhằm đạt kết quả theo đúng tiến độ đặt ra.

Chiến lược sẽ hỗ trợ các khoản đầu tư và chính sách trong một khuôn khổ chiến lược gồm ba trụ cột và ba chủ đề xuyên suốt. Ba trụ cột gồm: (i) tăng cường khả năng cạnh tranh của Việt Nam trong nền kinh tế khu vực và toàn cầu, (ii) tăng cường tính bền vững trong quá trình phát triển của Việt Nam, và (iii) mở rộng điều kiện tiếp cận với các cơ hội kinh tế xã hội. Các chủ đề xuyên suốt gồm có: (i) tăng cường quản trị, (ii) hỗ trợ bình đẳng giới và (iii) tăng cường khả năng chịu đựng khi đối mặt với các cú sốc kinh tế từ bên ngoài, các thảm hoạ thiên nhiên, và tác động của biến đổi khí hậu.

Với những thách thức mới trong công cuộc giảm nghèo, ví dụ như bất bình đẳng ngày càng tăng cao, nghèo đô thị và nghèo dai dẳng tập trung ở các cộng đồng dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa – chiến lược đã đặt ra một cam kết mới về xóa đói giảm nghèo, bao gồm tìm hiểu sâu sắc hơn về thay đổi trong đói nghèo tại Việt nam, và tập trung can thiệp vào những nhóm dân cư nghèo dựa trên những kiến thức và hiểu biết này. Các vấn đề về bình đẳng giới và quản trị sẽ được xem xét và áp dụng đối với tất cả các hoạt động từ giai đoạn chuẩn bị ban đầu nhằm nắm bắt cơ hội hỗ trợ các vấn đề này tốt hơn. Tăng cường khả năng chịu đựng cũng trở thành một chủ đề chính trong bối cảnh Việt nam đang ngày càng chịu tác động lớn hơn từ các cú sốc bên ngoài, ví dụ như tác động kinh tế ở cả cấp vĩ mô cũng như đối với từng hộ gia đình, thảm hoạ thiên nhiên, và tác động của biến đổi khí hậu. Chiến lược sẽ hỗ trợ tăng cường khả năng chịu đựng cụ thể của Việt nam theo ba trụ cột trong khung chiến lược đã đặt ra.

Môt thách thức khác đối với Việt nam là cần đạt kết quả phát triển nhanh hơn. Trong giai đoạn triển khai Chiến lược, Ngân hàng Thế giới và Chính phủ sẽ hợp tác đánh giá năng lực các hệ thống tài chính và đa dạng hóa các công cụ cho vay nhằm đạt được kết quả phát triển nhanh hơn. Ngân hàng cũng sẽ tiếp tục phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các nhà tài trợ khác để cùng giải quyết các vấn đề liên quan tới triển khai nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và thực hiện phân tích kinh nghiệm và bài học rút ra từ các tỉnh và lĩnh vực đã có kết quả triển khai tốt. Trong phạm vi triển khai dự án, một ưu tiên của Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch đầu tư là cải thiện thời gian phê duyệt triển khai, đẩy nhanh quá trình chuẩn bị và quản lý các hạng mục hiện tại tốt hơn. Một khung kết quả hợp lý hơn được xây dựng trong Chiến lược này sẽ là một công cụ quản lý cho Ban lãnh đạo quốc gia tại Việt nam của Ngân hàng Thế giới.

 

Việt Nam đang trải qua một sự chuyển biến sâu rộng từ một nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế toàn cầu hóa và dựa trên cơ chế thị trường. Quan hệ đối tác của Ngân hàng Thế giới với với Việt Nam từ năm 1993 đã góp phần giúp Việt Nam đạt được kết quả to lớn trong quá trình phát triển.

Tính đến 31/12/2012, danh mục dự án của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam gồm 51 dự án IDA/IBRD đang hoạt động, 4 dự án từ chương trình Hỗ trợ Môi trường Toàn cầu (GEF) và Dự án Tài Chính Cácbon và Quỹ tín thác do bên nhận quản lý và thực hiện (RETF). Tổng các khoản cam kết là 8.358 triệu đô la Mỹ, trong đó có 8.276 triệu từ nguồn vốn IDA/IBRD. Sự hỗ trợ này mang lại thay đổi cho Việt Nam trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, bao gồm giao thông và phát triển đô thị, phát triển nông thôn, năng lượng, quản lý tài nguyên nước, cải cách hành chính công, tài chính, giáo dục, y tế và dịch vụ xã hội, và môi trường.

Năm 2009, Việt Nam nhận được khoản vay đầu tiên từ IBRD, đơn vị trực thuộc Ngân hàng Thế giới cung cấp tín dụng cho các nước thu nhập trung bình và các quốc gia nghèo có uy tín tín dụng, để hỗ trợ một chương trình cải cách đầu tư công. Khoản vay này đánh dấu một bước tiến gần hơn của Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình thấp trong năm tiếp theo.

Cơ hội tiếp cận các dịch vụ tín dụng nông thôn được cải thiện đáng kể: Trong hơn một thập kỷ qua, lần đầu tiên, số hộ gia đình nông thôn có cơ hội tiếp cận các dịch vụ tín dụng – nhằm hỗ trợ các hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như kinh doanh nhỏ - đã tăng lên đáng kể. Các dự án Tài chính Nông thôn tại Việt nam 1 (Tiếng Anh) và 2 (Tiếng Anh) của Ngân hàng Thế giới đã đóng góp những kết quả tích cực vào xu hướng này cũng như góp phần tăng cường một số thể chế tài chính tài chính nông thôn. Dự án số 2 đã tài trợ cho hơn 400.000 tiểu dự án, với tổng vốn đầu tư tương đương với 740 triệu đô la Mỹ và tạo nhiều công ăn việc làm với cho người dân. (xem video)

Các dịch vụ cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn được mở rộng: Nguồn cung cấp nước sạch tại các thị xã nhỏ tăng gấp đôi lên đến 60% trong giai đoạn 2006 đến 2009, và tại các thành phố lớn trong cùng kỳ, nguồn cung tăng từ 75% lên tới 95%. Các khu vực nông thôn được tiếp cận nguồn nước sạch tăng từ 36% năm 1999 lên tới 70% năm 2009. Ngân hàng Thế giới một phần đã hỗ trợ Việt nam đạt được những con số phát triển này thông qua các khoản đầu tư vào Dự án cung nước sạch và vệ sinh môi trường khu vực Đồng bằng song Cửu long và các sáng kiến như Dự án viện trợ không hoàn lại (Tiếng Anh) dựa vào kết quả đầu ra trên toàn cầu của Tổ chức Đông Tây Hội ngội (EMW).

Khoảng 80% các hộ gia đình đô thị đã có công trình phụ hợp vệ sinh, nhưng hiện tại hầu hết đều sử dụng nhà vệ sinh tự hoại và rất ít chất thải được xử lý một cách hợp lý. Ngân hàng Thế giới hiện đang hỗ trợ phát triển các hệ thống vệ sinh tại một số thành phố, trong đó tài trợ cho một số nhà máy xử lý chấn thải đầu tiên được xây dựng tại Việt nam, bao gôm các tỉnh ven biển như tại Di sản thế giới Vịnh Hạ Long (xem video bằng Tiếng Anh), và các trung tâm đô thị lớn tại Đà Nẵng và Hải phòng. Vệ sinh đô thị vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu trong lĩnh vực đô thị và Ngân hàng Thế giới sẽ tiếp tục tài trợ.

95% dân số được sử dụng lưới điện quốc gia: Cứ mỗi ngày trong vòng 10 năm qua, 9.000 người dân tại Việt nam được kết nối với lưới điện quốc gia lần đầu tiên. Công suất phát điện tại Việt nam đã tăng gấp hai lần từ 12.000 MW năm 2005 lên tới 25,000 MW năm 2010. Với sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới cho Dự án Năng lượng Nông thôn 2 (Tiếng Anh), hơn 2,7 triệu người thuộc 555.327 hộ gia đình tại một số khu vực nghèo nhất của Việt nam có cơ hội được hòa vào lưới điện quốc gia (xem video bằng Tiếng Anh).

Hơn 90% dân số có cơ hội giao thương bởi các tuyến đường nhựa: Được triển khai tại 33 tỉnh thành, Dự án Giao thông Nông thôn 3 (Tiếng Anh) đang xúc tiến triển khai tại một số khu vực đồi núi khó khăn  nhất tại các tỉnh miền Bắc Việt nam, kết nối các cộng đồng nghèo điều kiện khó khăn với các thị trường buôn bán và dịch vụ tốt hơn. Với mức đầu tư trung bình bằng khoảng 4,5% GPD, Việt nam là nhà đầu tư lớn tại châu Á vào cơ sở hạ tầng giao thông nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển, giúp các thành phố và tỉnh thành có cơ hội giao thương để từ đó giúp người dân thoát nghèo. (xem video bằng Tiếng Anh)

95% người lái xe máy đã đội mũ bảo hiểm: Được thống kê có đến 6,5 ca tử vong trên 10.000 phương tiện giao thông mỗi năm, cao gấp 6 lần so với Nhật bản, tai nạn giao thông tại Việt nam là một trong những nguyên nhân chính  gây ra cuộc khủng hoảng thương tật tại Việt nam. Để giải quyết vấn đề tai nạn giao thông trong số những quốc gia có tỷ lệ tai nạn cao nhất trên thế giới này, Dự án An toàn Giao thông tại Việt nam (Tiếng Anh) đang phối hợp cùng các tổ chức y tế, giáo dục, công an và giao thông nhằm nỗ lực giảm tỷ lệ tai nạn và tử vong.

Cải thiện mức sống vùng núi và vùng sâu vùng xa: Được tài trợ từ Dự án giảm nghèo các tỉnh vùng núi phía Bắc giai đoạn 1 (Tiếng Anh), đã có 353.871 hộ gia đình được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn, hơn 118.000 hộ gia đình được sử dụng nước sạch, nhờ đó mà điều kiện sức khỏe của người dân địa phương được nâng cao đáng kể. Một dự án mở rộng sẽ được xây dựng dựa trên những kết quả đạt được ban đầu này, đồng thời sẽ đẩy mạnh hơn nữa việc đào tạo kỹ năng ứng phó trước các rủi ro thảm họa trong cộng đồng, và triển khai thí điểm các sáng kiến dịch vụ liên kết thị trường.

Giáo dục tiểu học tăng gấp hai lần và nhiều trẻ em có hoản cảnh khó khăn được đi học hơn. Tỷ lệ học sinh tiểu học được đi học trên cả nước tăng từ 25% lên tới 50% năm 2005. Trẻ em tại các huyện có hoàn cảnh khó khăn được đi học tăng lên 94% (so với mức 97% trên cả nước) trong đó tỷ lệ học sinh nữ được đi học cấp 2 lên tới 78%, cao hơn mức 77% học sinh nam.

Quyền sở hữu đất đai của phụ nữ tăng cao hơn: Sau thành công của hai dự án được triển khai thí điểm do Ngân hàng Thế giới tài trợ đầu những năm 2000, Chính phủ Việt nam đã thông qua Luật đất đai quy định tất cả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng (xem video bằng Tiếng Anh). Dự án Quản lý Đất đai Việt Nam (Tiếng Anh) được tài trợ bởi Ngân hàng Thế giới nhằm mục đích đến năm 2013 có thể cấp khoảng 5 triệu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (do cả vợ và chồng đứng tên).

 

CÁC KHOẢN VAY

Việt Nam: Các khoản cam kết theo năm tài khóa (đơn vị: triệu đô la)*

*Các khoản tín dụng bao gồm các cam kết IBRD và IDA

Trong Nhóm Ngân hàng Thế giới

Tìm hiểu hoạt động của các cơ quan khác trực thuộc Nhóm Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam