Skip to Main Navigation

Tổng Quan về Việt Nam

  • Sự phát triển của Việt Nam trong hơn 30 năm qua rất đáng ghi nhận. Đổi mới kinh tế và chính trị từ năm 1986 đã thúc đẩy phát triển kinh tế, nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp. Từ 2002 đến 2018, GDP đầu người tăng 2,7 lần, đạt trên 2.700 USD năm 2019, với hơn 45 triệu người thoát nghèo. Tỉ lệ nghèo giảm mạnh từ hơn 70% xuống còn dưới 6% (3,2 USD/ngày theo sức mua ngang giá). Đại bộ phận người nghèo còn lại ở Việt Nam là dân tộc thiểu số, chiếm 86%.

    Do hội nhập kinh tế sâu rộng, nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19, nhưng cũng thể hiện sức chống chịu đáng kể.  Tăng trưởng GDP ước đạt 2,9% năm 2020. Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới tăng trưởng kinh tế dương, nhưng đại dịch đã để lại những tác động dài hạn đối với các hộ gia đình - thu nhập của khoảng 45% hộ gia đình được khảo sát giảm trong tháng 1 năm 2021 so với tháng 1 năm 2020. Nền kinh tế được dự báo sẽ tăng trưởng 6,6% năm 2021 nếu Việt Nam kiểm soát tốt sự lây lan của vi-rút đồng thời các ngành sản xuất hướng xuất khẩu hoạt động tốt và nhu cầu nội địa phục hồi mạnh mẽ. 

    Việt Nam đang chứng kiến thay đổi nhanh về cơ cấu dân số và xã hội. Dân số Việt Nam đã lên đến 96,5 triệu vào năm 2019 (từ khoảng 60 triệu năm 1986) và dự kiến sẽ tăng lên 120 triệu dân tới năm 2050. Theo kết quả Tổng điều tra dân số Việt Nam năm 2019, 55,5% dân số có độ tuổi dưới 35, với tuổi thọ trung bình gần 76 tuổi, cao hơn những nước có thu nhập tương đương trong khu vực. Nhưng dân số đang bị già hóa nhanh. Tầng lớp trung lưu đang hình thành – hiện chiếm 13% dân số và dự kiến sẽ lên đến 26% vào năm 2026.

    Chỉ số Vốn nhân lực của Việt Nam là 0.69. Điều đó có nghĩa là một em bé Việt Nam được sinh ra ở thời điểm hiện nay khi lớn lên sẽ đạt mức năng suất bằng 69% so với cũng đứa trẻ đó được học tập và chăm sóc sức khỏe đầy đủ. Đây là mức cao hơn mức trung bình của khu vực Đông Á - Thái Bình Dương và các nước có thu nhập trung bình thấp hơn. Mặc dù chỉ số Vốn nhân lực của Việt Nam tăng từ 0,66 lên 0,69 từ năm 2010 đến 2020 Việt Nam, còn tồn tại sự chênh lệch trong nội bội quốc gia, đặc biệt là đối với nhóm các dân tộc thiểu số.

    Y tế cũng đạt nhiều tiến bộ lớn khi mức sống ngày càng cải thiện. Từ năm 1993 đến 2017, tỷ suất tử vong ở trẻ sơ sinh giảm từ 32,6 xuống còn 16,7 (trên 1.000 trẻ sinh). Tuổi thọ trung bình tăng từ 70,5 lên 76,3 tuổi trong thời gian từ năm 1990 đến 2016. Chỉ số bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân là 73 - cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới – với 87% dân số có bảo hiểm y tế. Tuy nhiên tỉ lệ chênh lệch giới tính khi sinh vẫn ở mức cao và ngày một tăng (115 trong năm 2018) cho thấy tình trạng phân biệt giới tính vẫn còn tồn tại. Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất, dự báo đến năm 2050 nhóm tuổi trên 65 sẽ tăng gấp 2,5 lần.

    Trong vòng 30 năm qua, việc cung cấp các dịch vụ cơ bản có nhiều thay đổi tích cực. Khả năng người dân tiếp cận hạ tầng cơ sở được cải thiện đáng kể. Tính đến năm 2016, 99% dân số sử dụng điện chiếu sáng, so với tỉ lệ 14% năm 1993. Tỉ lệ tiếp cận nước sạch nông thôn cũng được cải thiện, từ 17% năm 1993 lên 70% năm 2016, trong khi tỉ lệ ở thành thị là trên 95%. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đầu tư cơ sở vật chất tính theo phần trăm GDP của Việt Nam nằm trong nhóm thấp nhất trong khu vực ASEAN. Điều này tạo ra những thách thức đối với sự phát triển liên tục của các dịch vụ cơ sở hạ tầng hiện đại cần thiết cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo (Việt Nam xếp thứ 89 trong số 137 quốc gia về chất lượng cơ sở hạ tầng).

    Tăng trưởng và công nghiệp hóa nhanh của Việt Nam đã để lại nhiều tác động tiêu cực đối với môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Tổng mức tiêu thụ điện tăng gấp ba lần trong vòng mười năm qua, nhanh hơn mức tăng sản lượng điện. Với sự phụ thuộc ngày càng tăng vào nhiên liệu hóa thạch, ngành năng lượng phát thải gần hai phần ba tổng phát thải khí nhà kính của cả nước. Nhu cầu cấp thiết là phải đẩy nhanh quá trình chuyển đổi năng lượng sạch. Trong hai thập kỷ qua, Việt Nam đã nổi lên là quốc gia phát thải khí nhà kính bình quân đầu người tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới – với mức tăng khoảng 5% mỗi năm. Nhu cầu sử dụng nước ngày một tăng cao, trong khi năng suất nước vẫn còn ở mức thấp, chỉ đạt 12% so với chuẩn thể giới. Tình trạng khai thác thiếu bền vững tài nguyên thiên nhiên như cát, thủy sản và gỗ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến triển vọng tăng trưởng dài hạn. Bên cạnh đó, đại đa số người dân và nền kinh tế Việt Nam đều dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu.

    Đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế và dân số tăng nhanh đang đặt ra những thách thức ngày càng lớn về quản lý chất thải và xử lý ô nhiễm. Lượng rác thải của Việt Nam dự báo tăng gấp đôi trong vòng chưa đầy 15 năm tới. Bên cạnh đó là vấn đề rác thải nhựa đại dương. Theo ước tính, 90% rác thải nhựa đại dương toàn cầu được thải ra từ 10 con sông, trong đó có sông Mê Kông. Việt Nam cũng là một trong mười quốc gia trên thế giới bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi ô nhiễm không khí. Ô nhiễm nguồn nước đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với năng suất của các ngành quan trọng và với sức khỏe của người dân.

    Chính phủ đang nỗ lực giảm thiểu tác động của tăng trưởng lên môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu một cách hiệu quả. Nhiều chiến lược và kế hoạch để thúc đẩy tăng trưởng xanh và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên đang được thực thi.

    Lần cập nhật gần nhất: 7 Tháng 4 Năm 2021

  • Khung Đối tác Quốc gia (CPF) ở Việt Nam của Nhóm Ngân hàng Thế giới là tài liệu định hướng cho các hoạt động hợp tác của Nhóm Ngân hàng Thế giới tại quốc gia từ 2018 đến 2022.

    Được thông qua ngày 30/05/2017, Khung quan hệ đối tác quốc gia (CPF) thể hiện những lĩnh vực ưu tiên được xác định qua Báo cáo Đánh giá Quốc gia năm 2016 của Nhóm Ngân hàng Thế giới, Báo cáo Việt Nam 2035, và Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2016 – 2020 của Chính phủ Việt Nam, và tập trung vào bốn lĩnh vực ưu tiên như sau:

    ·         Phát triển bao trùm và sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân

    ·         Đầu tư vào con người và tri thức

    ·         Bền vững môi trường và năng lực ứng phó

    .         Thúc đẩy quản trị tốt

    Phát huy những hợp tác sâu rộng của Nhóm Ngân hàng Thế giới với Việt Nam, Khung Đối tác Quốc gia (CPF) vạch ra những chuyển đổi chiến lược nhằm định hướng cho hoạt động của Nhóm Ngân hàng Thế giới trong thời gian tới:

    ·         Hỗ trợ toàn diện nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân và sự tham gia của kinh tế tư nhân vào các ngành kinh tế;

    ·         Phấn đấu đảm bảo bền vững tài chính các dịch vụ công và các chính sách xã hội;

    ·         Hỗ trợ giảm nghèo nhóm dân tộc thiểu số nhờ các hoạt động tạo việc làm và thu nhập;

    ·         Hỗ trợ đa ngành nhằm tăng cường mối liên kết giữa giáo dục, đào tạo và thị trường lao động;

    ·         Thúc đẩy và khuyến khích sản xuất điện với mức phát thải các-bon thấp.

    Nhóm Ngân hàng Thế giới thực hiện đánh giá giữa kỳ Khung Đối tác Quốc gia vào đầu năm 2019. Đánh giá cho thấy Khung Quan hệ Đối tác Quốc gia hiện hành vẫn phù hợp với mục tiêu phát triển của Chính phủ Việt Nam và những lĩnh vực Chính phủ cần Nhóm Ngân hàng Thế giới hỗ trợ. Khung đối tác sẽ được mở rộng thêm các chương trình cải thiện phúc lợi và sự phát triển của các nhóm dân tộc thiểu số và thực hiện Đóng góp Quốc gia tự quyết định để giảm phát thải khí nhà kính theo Công ước Khung của Liên hợp quốc về Biến đổi Khí hậu.

    Các mục tiêu đề ra trong khung kết quả cho Khung Đối tác Quốc gia vẫn đảm bảo tiến độ, qua việc Ngân hàng Thế giới triển khai một danh mục cho vay lớn, trong đó có nhiều dự án được phê duyệt trong phạm vi IDA18 and IBRD, sự hoạt động hiệu quả của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), và qua việc triển khai một danh mục toàn diện các hoạt động hỗ trợ phân tích và tư vấn (ASA), nhằm cung cấp thông tin cho cải cách và lập chính sách.

    Lần cập nhật gần nhất: 8 Tháng 10 Năm 2020

  • Tính đến ngày 21 tháng 3 năm 2021, Ngân hàng Thế giới đã cung cấp nguồn tài chính lên tới 24,94 tỷ USD bao gồm viện trợ không hoàn lại, vốn tín dụng, và vốn vay ưu đãi cho Việt Nam thông qua 209 dự án. Danh mục hiện nay của Việt Nam gồm 37 dự án đang triển khai, với tổng mức cam kết ròng lên đến 7,19 tỷ USD. Ngoài ra, Việt Nam còn nhận được một danh sách lớn và đa dạng các hoạt động hỗ trợ phân tích và tư vấn (ASA), với 34 nghiên cứu đang được triển khai hiện nay. Nhiều chương trình hỗ trợ phân tích và tư vấn (ASA) đã huy động thêm được sự hỗ trợ từ các đối tác cấp quốc gia và các quỹ tín thác của các đối tác phát triển.

    COVID-19

    Kể từ khi ca lây nhiễm COVID-19 được ghi nhận tại Việt Nam vào đầu năm 2020, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã đồng hành cùng Việt Nam xây dựng chiến lược ứng phó quốc gia từ quản lý khủng hoảng y tế đến thúc đẩy phục hồi kinh tế bền vững. Khoản tài trợ từ Quỹ Tài trợ Khẩn cấp Đại dịch đã giúp tăng cường năng lực xét nghiệm cho 84 phòng thí nghiệm trên toàn quốc, cắt giảm thời gian từ lúc lấy mẫu xét nghiệm đến khi công bố kết quả từ 24-48 giờ xuống còn 4-6 giờ. Ngân hàng Thế giới đã đưa ra các chuyên đề tư vấn chính sách đa ngành từ chiến lược bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương khỏi tác động tiêu cực của COVID-19 đến thúc đẩy phục hồi trên diện rộng. Các hoạt động tư vấn của Ngân hàng Thế giới góp phần giúp Việt Nam ứng phó thành công với COVID-19 – tính đến cuối năm 2020, một quốc gia 96.5 triệu dân chỉ ghi nhận 1.465 trường hợp nhiễm bệnh với 35 trường hợp tử vong trong khi vẫn đạt được mức tăng trưởng GDP khả quan.

    Năng lượng sạch

    Dự án Thủy điện Trung Sơn hỗ trợ phát triển một nhà máy thủy điện nối lưới công suất 260 megawatt ở vùng sâu vùng xa thuộc khu vực miền Trung Việt Nam. Kể từ khi đi vào hoạt động hoàn chỉnh từ năm 2017, hàng năm nhà máy đã cung cấp 1 tỷ kilowatt giờ (kWh) điện với chi phí trung bình thấp hơn so với các nguồn tái tạo khác hoặc than. Nhà máy thủy điện Trung Sơn đã giảm phát thải khoảng 1 triệu tấn khí nhà kính so với một nhà máy nhiệt điện cung cấp cùng khối lượng điện. Dự án giúp tăng tỷ lệ người dân địa phương được sử dụng điện từ 30% năm 2015 lên 97% vào năm 2019 - đồng thời góp phần cải thiện chất lượng cung cấp điện trong vùng. Nhà máy cũng đã giúp giảm thiểu rủi ro lũ lụt ở các vùng hạ lưu.

    Dự án Phát triển Năng lượng Tái tạo ở Việt Nam hỗ trợ khu vực tư nhân phát triển năng lượng tái tạo quy mô lớn, góp phần tăng tỉ trọng năng lượng tái tạo lên gần 10% trong tổng công suất phát điện của Việt Nam. Dự án kết thúc trong năm tài chính 2019 đã cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và vốn đầu tư ban đầu để xây dựng năng lực và chính sách khuyến khích cần thiết cho tất cả các bên liên quan, tạo tiền đề cho phát triển năng lượng tái tạo quy mô lớn. Ngoài ra, 19 công trình thủy điện nhỏ đã được xây dựng với tổng công suất 320 MW, hàng năm cung cấp lượng điện lên đến 1.260GWh. Tất cả các công trình này đều tuân thủ thông lệ toàn cầu tốt nhất về xã hội và môi trường trên, đặt ra những chuẩn mực mới tại Việt Nam.

    Môi trường và các nguồn Tài nguyên thiên nhiên

    Thông qua Chương trình Hỗ trợ Biến đổi Khí hậu và tăng trưởng xanh, Ngân hàng Thế giới đóng góp mạnh mẽ vào chương trình cải cách chính sách trong lĩnh vực liên quan. Một trụ cột chính của chương trình đã giúp cải thiện quy hoạch liên ngành ven biển và tích hợp biến đổi khí hậu vào các chương trình đầu tư công trong một số lĩnh vực quan trọng. Ngoài ra, các chính sách được hỗ trợ trong chương trình này góp phần thúc đẩy ứng dụng các công nghệ và thực hành tưới tiêu tiết kiệm nước và hỗ trợ các tỉnh thiết lập hành lang bảo vệ cho các nguồn nước chính. Những cải cách do chương trình này mang lại cũng góp phần cải thiện hiệu quả năng lượng của các thiết bị gia dụng và tăng đầu tư vào năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng mặt trời và năng lượng gió.

    Dự án Tài nguyên Duyên hải cho Phát triển Bền vững, cung cấp các công cụ và thông lệ tốt về quản lý ngư nghiệp cho cả chính quyền và ngư dân, dọc theo tám tỉnh vùng duyên hải của Việt Nam. Từ năm 2012 đến năm 2018, dự án hỗ trợ 40 huyện và 257 xã vùng duyên hải chuyển đổi từ quy hoạch ngành phân tán sang quy hoạch không gian tổng hợp để đồng quản lý ngư nghiệp. Dự án cũng hỗ trợ 13.000 ngư dân áp dụng Thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP) trong công việc hàng ngày thông qua giới thiệu các công nghệ mới thân thiện với môi trường, đồng thời giúp cải thiện hạ tầng an ninh sinh học cho môi trường hoạt động của họ.

    Dự án Quản lý Ô nhiễm Công nghiệp Việt Nam đã cải thiện đáng kể việc tuân thủ các quy định về xử lý nước thải công nghiệp tại bốn tỉnh có tỉ lệ sản xuất công nghiệp cao nhất Việt Nam. Gần 70% nước thải từ các khu công nghiệp không được xử lý. Từ năm 2012 đến 2018, tỷ lệ các khu công nghiệp tuân thủ các quy định về xử lý nước thải đã tăng từ dưới 30% lên 72%. Trong cùng kỳ, tỷ lệ các khu công nghiệp có nhà máy xử lý nước thải tập trung tại chỗ tăng từ 60% đến 98%. Đây là kết quả đáng ghi nhận, trong bối cảnh số lượng khu công nghiệp tăng 26,4%.

    Phát triển Đô thị

    Dự án Nâng cấp Đô thị Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đã giúp cải tạo các khu dân cư thu nhập thấp, ở vùng trũng tại sáu thành phố vùng đồng bằng sông Cửu Long thành các không gian đô thị xanh. Dự án này đã cải thiện đáng kể chất lượng sống cho khoảng 625.000 người hưởng lợi trực tiếp thông qua nâng cấp hạ tầng cơ bản. Bên cạnh đó, khoảng hai triệu người được hưởng lợi gián tiếp qua cải thiện hạ tầng và các công trình xã hội mới ở nhiều nơi trong thành phố. Lợi ích dài hạn không chỉ trong vòng đời dự án. Theo đó, tổng lợi ích kinh tế ước đạt 724 triệu USD, tính trên tiết kiệm về chi phí chăm sóc y tế, thời gian dành cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm soát thiệt hại về ngập lụt, và tăng giá trị đất đai.

    Phát triển nông thôn

    Dự án Nước sạch và Vệ sinh Nông thôn Dựa trên Kết quả theo Chương trình Mục tiêu Quốc gia đã giúp giải quyết một trong những thách thức lớn nhất ở nông thôn Việt Nam qua đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và cải thiện khung pháp lý để nâng cao tiếp cận dịch vụ cấp nước và vệ sinh bền vững. Từ năm 2013 đến 2019, hơn 1 triệu người đã được kết nối với hệ thống nước bền vững, 400.000 điểm kết nối cấp nước mới được xây dựng. Bên cạnh đó, khoảng 1,4 triệu người ở 203 xã được tiếp cận với vệ sinh toàn xã. 142.000 hộ gia đình và 1.500 trường học được lắp đặt vệ sinh cải tiến. Chương trình cũng tăng cường đáng kể các cơ chế giám sát nước sạch và vệ sinh và quy trình đánh giá của các cơ quan thực hiện ở các tỉnh có dự án.

    Vốn Nhân lực

    Việt Nam tham gia Dự án Vốn nhân lực năm 2019 với mục tiêu cải thiện dinh dưỡng, tiếp cận giáo dục chất lượng và tăng cường phát triển lực lượng lao động cho nền kinh tế đang chuyển đổi. Ngân hàng Thế giới đã hỗ trợ Việt Nam cải cách hệ thống giáo dục ở tất cả các cấp. Dự án Tăng cường Khả năng Sẵn sàng Đi học giúp nâng cao tiếp cận giáo dục mẫu giáo cả ngày cho 84% trẻ em ở độ tuổi lên năm trong năm 2015, từ mức 66% trong năm 2011. Chất lượng giáo dục mẫu giáo đã được cải thiện thông qua áp dụng cách tiếp cận học tập lấy trẻ em làm trung tâm cho 250.000 giáo viên mầm non. Ngân hàng cũng tư vấn chiến lược cho Việt Nam về cách thức chuẩn bị lực lượng lao động các kĩ năng cho việc làm trong tương lai.

    Ngân hàng Thế giới đồng hành cùng các nỗ lực của Việt Nam đảm bảo mọi người dân đều được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng, với chi phí hợp lý. Tại các tỉnh miền Bắc, 13,7 triệu người dân - nhiều người trong số họ đến từ các vùng sâu vùng xa - được tiếp cận tốt hơn với dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng. Dự án Hỗ trợ hệ thống y tế khu vực Đông Bắc và Đồng bằng sông Hồng đã nâng cao năng lực điều trị cho 74 bệnh viện công lập tuyến huyện và tỉnh thông qua việc đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng và đào tạo nâng cao tay nghề cho các y, bác sĩ, tập trung vào 5 chuyên khoa hay gặp tình trạng quá tải bao gồm tim mạch, sản / phụ khoa, nhi khoa, ung bướu và chấn thương (phẫu thuật).

    Giảm Nghèo

    Việt Nam đã có những bước tiến lớn về giảm nghèo và cải thiện chất lượng sống cho hàng triệu người. Ngân hàng Thế giới đã song hành với Việt Nam trên những chặng đường cuối cùng về xóa nghèo vì còn khoảng 8 triệu người Việt Nam vẫn sống với dưới mức 3,2 USD mỗi ngày vào năm 2018. Dự án Giảm nghèo Miền núi phía Bắc Giai đoạn Hai được triển khai ở sáu tỉnh miền núi khu vực nghèo nhất của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2018 là điển hình cho quan hệ hợp tác hiệu quả trên. Dự án đặt mục tiêu nâng cao điều kiện sống của người dân tộc thiểu số thông qua cải thiện khả năng tiếp cận hạ tầng phục vụ sản xuất kinh doanh, tăng cường năng lực cho chính quyền địa phương và các cộng đồng, thúc đẩy kết nối với thị trường và đổi mới sáng tạo trong kinh doanh. Dự án đem lại lợi ích cho 192.000 hộ gia đình với kết quả thu nhập tăng 16%, đem lại những bài học tốt để Chính phủ điều chỉnh cách tiếp cận công tác giảm nghèo.

    Cải cách Quản trị Nhà nước

    Nâng cao hiệu suất và sự liêm chính của khu vực công là một trong những ưu tiên hợp tác của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam. Từ năm 2018, Ngân hàng Thế giới hỗ trợ Văn phòng Chính phủ Việt Nam trong nỗ lực xây dựng chính phủ điện tử để tăng hiệu quả và tính minh bạch trong việc cung cấp dịch vụ công. Văn phòng Chính phủ đã công bố trong tháng 12 và Chính phủ Điện tử trong tháng 6 năm 2019. Tháng 2 năm 2019, hai bên đã tiến hành đánh giá mức độ sẵn sàng phát triển chính phủ kỹ thuật số tại Việt Nam, đặt nền móng cho sự ra đời của Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (e-Cabinet) tháng 6 năm 2019 và Cổng Dịch vụ công Quốc gia tháng 12 năm 2019. Cổng Công khai Ngân sách Nhà nước đi vào hoạt động tháng 8 năm 2020, cung cấp thông tin ngân sách của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương.

    Trước đó, Ngân hàng đã thực hiện nghiên cứu tiên phong về vấn đề xung đột lợi ích trong bối cảnh tương tác ngày càng tăng giữa khu vực công và khu vực tư nhân.

    Lần cập nhật gần nhất: 7 Tháng 4 Năm 2021

Api


CÁC KHOẢN VAY

Việt Nam: Các khoản cam kết theo năm tài khóa (đơn vị: triệu đô la)*

*Các khoản tín dụng bao gồm các cam kết IBRD và IDA



KHO ẢNH

Ảnh khác Arrow

Chuyên đề

Nguy cơ thảm họa 21 Tháng 10 Năm 2020

Tăng cường Khả năng Chống chịu: Phát triển Khu vực Ven biển Việt Nam – Cơ...

Tăng cường Khả năng Chống chịu: Phát triển Khu vực Ven biển Việt Nam – Cơ hội và Rủi ro Thiên tai

30 Tháng 7 Năm 2019

Thành phố Hồ Chí Minh: Công nghệ Đột phá Giúp Giải Quyết các Thách thức Quản ...

Thành phố Hồ Chí Minh đang tiên phong trong việc sử dụng các công nghệ đột phá để giúp người dân tiếp cận dễ dàng hơn các thông tin bản đồ quy hoạch đất đai

6 Tháng 6 Năm 2019

Hướng tới một hệ thống nước có tính thích ứng, sạch và an toàn

Ở Việt Nam, nước là một tài sản quý báu của quốc gia. Phần lớn những chuyển mình nổi bật của Việt Nam gần đây dựa trên sự phát triển và sử dụng nguồn tài nguyên nước được cho là dồi dào của mình.

6 Tháng 2 Năm 2019

Chăm sóc bờ biển Việt Nam: Khả năng phục hồi tốt hơn, sinh kế tốt hơn

Chăm sóc bờ biển Việt Nam: Khả năng phục hồi tốt hơn, sinh kế tốt hơn

5 Tháng 2 Năm 2019

Xu hướng toàn cầu trong giáo dục đại học có ý nghĩa gì đối với Việt Nam

Xu hướng toàn cầu trong giáo dục đại học có ý nghĩa gì đối với Việt Nam

Thông tin thêm