Learn how the World Bank Group is helping countries with COVID-19 (coronavirus). Find Out

Diễn văn và Bản ghi chép 15 Tháng 12 Năm 2017

World Bank Country Director Remarks at Vietnam Logistics Forum 2017

Kính thưa Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh,

Kính thưa Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải,

Kính thưa quý vị đại biểu thuộc các bộ, ban ngành chính phủ, các doanh nghiệp và cộng đồng các đối tác phát triển,

Kính thưa toàn thể quý vị,

Xin chào mừng quý vị đến với Diễn đàn!

Trước hết tôi xin đánh giá cao Bộ Công thương, Bộ Giao thông Vận tải, Thời báo Kinh tế Việt Nam và Ngân hàng Thế giới đã hợp tác tốt để đồng tổ chức sự kiện thường niên quan trọng này, tạo điều kiện để các bên thảo luận về những thách thức, cơ hội của ngành logistics Việt Nam.

Như quý vị đã biết, hoạt động logistics và kết nối hiệu quả và tối ưu là yếu tố quan trọng bảo đảm năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Logistics hiệu quả càng đặc biệt quan trọng đối với một nền kinh tế đang phụ thuộc nhiều vào khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và xuất khẩu như Việt Nam. Điều này sẽ giúp Việt Nam tăng năng suất để đạt được các mục tiêu phát triển đầy tham vọng của mình.

Nhờ có chính sách mở cửa nhất quán và lấy tăng trưởng xuất khẩu làm đầu tàu, Việt Nam đã đạt được những thành quả quan trọng. Công cuộc cải cách kinh tế tiến hành từ thập niên 1990 đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng và giảm nghèo.  Trong 20 năm qua, Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) hơn bất kỳ nước nào khác trong khu vực, nhờ đó trở thành một trong những nền kinh tế hội nhập sâu rộng nhất trên thế giới, với tỷ trọng kim ngạch thương mại trên GDP đạt trên 170%.  Tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa đạt bình quân 15% trong 5 năm qua, cao gần gấp 5 lần tăng trưởng thương mại toàn cầu.  Nhờ đó, Việt Nam hiện đang nổi lên là một trung tâm sản xuất công nghiệp toàn cầu và một trong những điểm đến hàng đầu trên thế giới đối với đầu tư FDI, thu hút khoảng 35 tỷ USD vốn đăng ký vào năm 2017.

Nhưng số lượng không phải lúc nào cũng đi cùng với chất lượng. Mặc dù tăng trưởng xuất khẩu đã tăng mạnh, Việt Nam vẫn chỉ thực hiện những công đoạn sản xuất có giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu.  Kết quả xuất khẩu chủ yếu vẫn phụ thuộc vào khu vực FDI, hiện đang chiếm tới 70% tổng giá trị xuất khẩu, qua đó cho thấy mối liên kết yếu giữa các doanh nghiệp trong nước với chuỗi giá trị toàn cầu.  Thêm vào đó, chi phí xuất nhập khẩu của Việt Nam vẫn cao hơn mức bình quân của khối ASEAN.  Tính theo tỉ trọng GDP, chi phí logistics của Việt Nam là 18%, cao gần gấp đôi so với các nền kinh tế phát triển và cao hơn mức bình quân toàn cầu 14%.  Dù đã đạt được những tiến bộ đáng kể về cải thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ logistics nhưng Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm để nâng cao hiệu quả logistics, mà bằng chứng là việc thứ hạng của Việt Nam theo chỉ số năng lực logistics (LPI) đã giảm từ 48 năm 2014 xuống 64 năm 2016.  Sự sụt giảm này cho thấy các nền kinh tế khác đang có sự thăng tiến nhanh hơn nhiều so với Việt Nam, đồng nghĩa với việc Việt Nam đang mất đi lợi thế cạnh tranh.

Việt Nam cần một giải pháp để nâng cao hiệu quả xuất nhập khẩu bên cạnh tự do hóa thương mại nhằm hiện thực hóa tầm nhìn trở thành một nền kinh tế thu nhập trung bình cao vào năm 2035, khi nền kinh tế và hoạt động xuất khẩu đã phát triển lên trình độ mới, bảo đảm duy trì tăng trưởng nhanh.

Chính phủ cũng như khối kinh tế tư nhân cần có lộ trình rõ ràng về cải cách nếu muốn nâng cao chất lượng dịch vụ logistics theo những đòi hỏi tăng lên của một nền kinh tế ngày càng hiện đại.  Trong nhiều lĩnh vực sẽ cần có những nhóm giải pháp để bổ sung cho việc tăng cường đáng kể đầu tư vào hạ tầng cơ sở.  Những nội dung chính của nhóm giải pháp này là:

 

Thứ nhất, tăng cường kết nối. Khi khả năng kết nối trở nên có hiệu quả thì sẽ tăng cường được mối liên kết giữa sản xuất và thị trường thế giới.  Từ đó sẽ giảm được chi phí thương mại và tăng sự ổn định cho các doanh nghiệp trong nước về thực hiện đơn hàng.  Mặc dù có những nỗ lực lớn trong đầu tư công vào hệ thống giao thông, hạ tầng có liên quan đến thương mại chưa bắt kịp được với mức độ với tăng trưởng xuất khẩu và sự gia tăng nhanh chóng về lưu lượng hàng hóa. Tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam đang bị hạn chế nghiêm trọng do sự yếu kém của hành lang kết nối giữa những trọng điểm tăng trưởng quan trọng với các cửa ngõ quốc tế lớn, chi phí vận tải cao, và chất lượng vận tải và logistics kém.  Đầu tư vẫn chưa đồng bộ, tập trung chủ yếu vào đường bộ hơn là các loại hình vận tải đa phương thức khác.  Quy hoạch tổng thể cần phải phản ánh nhu cầu ngày càng lớn của các hoạt động kinh tế và thương mại quan trọng cũng như tối ưu hóa đầu tư vào vận tải đa phương thức và các trung tâm logistics.  Nên thay đổi việc phụ thuộc quá nhiều vào đầu tư công, rõ ràng là vượt khả năng tài trợ, kém hiệu quả và do vậy không bền vững.  Việc chuyển dịch sang tài trợ bởi khu vực tư nhân và thiết lập ưu tiên rõ ràng cho đầu tư thiết yếu là chìa khóa để có kết nối tốt hơn.

Thứ hai, tăng cường tạo thuận lợi thương mại có thể là một yếu tố quyết định. Các xu hướng toàn cầu cho thấy lợi ích có được từ tăng cường tạo thuận lợi thương mại có thể lớn hơn nhiều lợi ích từ giảm thuế quan, đặc biệt khi mà mức thuế quan hiện đã khá thấp ở phần lớn các lĩnh vực.  Tăng cường tạo thuận lợi thương mại thông qua đơn giản hóa thủ tục hải quan và các quy định quản lý chuyên ngành có rất nhiều quy định phải tuân thủ, mà theo ước tính của chúng tôi chiếm tới 76% thời gian cần thiết để nhập khẩu để đáp ứng các yêu cầu quản lý thủ tục ở trước và tại cửa khẩu. Trong khi mục tiêu tạo thuận lợi thương mại, là nhằm tăng cường hiệu quả của chuỗi cung ứng, giảm các chi phí, gánh nặng thủ tục, và các điểm tắc nghẽn đối với doanh nghiệp. Tiến bộ gần đây trong cải cách hải quan là rất đáng khích lệ, nhưng việc cải cách và hiện đại hóa các cơ quan quản lý chuyên ngành vẫn chậm trễ hơn nhiều.  Việc chỉ cải cách ngành hải quan sẽ không tạo ra hiệu quả đáng kể về tạo thuận lợi thương mại.  Trong khung luật định hiện hành về tạo thuận lợi thương mại, gồm các quy trình cấp phép, thủ tục hành chính áp dụng trước và tại cửa khẩu, còn có rất nhiều quy định quản lý phức tạp.  Ngoài ra, các văn bản hướng dẫn không phải lúc nào cũng có sự thống nhất, nhiều khi có sự chồng chéo, thiếu rõ ràng, liên quan đến nhiều cơ quan quản lý nhà nước khác nhau. Vì vậy cần có sự đồng bộ, phối hợp tốt hơn, tập trung vào các giải pháp chính sách nhằm rà soát, hợp lý hóa biện pháp, quy trình, áp dụng tự động hóa, nhất là Cơ chế một cửa quốc gia, bãi bỏ các quy định về kiểm tra nhiều lần, thực hiện quản lý dự trên đánh giá rủi ro trong các cơ quan kiểm tra chuyên ngành, cũng như tăng cường tính minh bạch.

Thứ ba, để thành công, một đòi hỏi quan trọng là phải có sự phối hợp, cộng tác liên ngành với doanh nghiệp.  Để thực hiện thành công Chương trình hành động Đa ngành rõ ràng cần sự cam kết của tất cả các cơ quan và một cơ chế phối hợp liên ngành có sự chỉ đạo sát sao của chính phủ. Tôi cũng xin nhân đây chúc mừng Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ về quyết định thành lập Ủy ban Tạo thuận lợi Thương mại Quốc gia (NTFC) gần đây, với vai trò quan trọng là lãnh đạo các nỗ lực liên ngành cũng như tuân thủ các quy định của Hiệp định Tạo thuận lợi Thương mại WTO.  Trong thời gian tới, chúng tôi khuyến nghị mở rộng phạm vi hoạt động của NTFC sang mục tiêu phát triển lĩnh vực logistics, cũng như giám sát kết quả thực hiện Chương trình hành động Logistics Quốc gia.  Hợp tác với doanh nghiệp là yêu cầu hết sức quan trọng, vì thế chúng tôi xin đề xuất có đại diện của doanh nghiệp tham gia vào Ủy ban Tạo thuận lợi Thương mại Quốc gia.

Cuối cùng, theo dõi và đo lường được tiến độ cải cách cũng rất quan trọng. Như thường nói, những gì không thể đo được thì khó được cải thiện. Chúng tôi thấy việc thu thập và duy trì dữ liệu về logistics và hiệu quả tạo thuận lợi cho thương mại là rất quan trọng để triển khai các cải cách và hoạt động thích hợp.  Có được số liệu thống kê chính xác về logistics và vận tải sẽ làm tiền đề cho việc xây dựng chính sách chính xác hơn, trong khi thách thức đầu tiên của Việt Nam là chưa có cơ sở dữ liệu ban đầu của hoạt động vận tải và logistics. Về vấn đề này, Ngân hàng Thế giới đang hỗ trợ Bộ Giao thông Vận tải xây dựng một cơ sở dữ liệu và các chỉ số toàn diện về logistics ở Việt Nam, được gọi là Hệ Thống Thống Kê Logistics Quốc gia Việt Nam.  

Kính thưa toàn thể quý vị,

 

Có thể nói, vai trò lãnh đạo ở các cấp cao nhất của chính phủ sẽ luôn là yếu tố quan trọng đối với mọi chương trình cải cách trong lĩnh vực này. Chúng tôi cũng hiểu rằng sự tham gia của khối kinh tế tư nhân cũng rất quan trọng, vì suy cho cùng, đa số các dịch vụ logistics đều do doanh nghiệp tư nhân thực hiện.

Tôi chắc chắn rằng nếu chung vai gánh sức, chúng ta sẽ có thể đương đầu được với thử thách này. Tôi rất hài lòng khi nhận thấy sự đa dạng của các thành phần tham gia diễn đàn có mặt tại đây hôm nay. Đó cũng chính là một đặc trưng cơ bản của mọi nền tảng về logistics, rằng sự cải thiện là một nỗ lực chung có sự tham gia của một số ban ngành quan trọng của nhà nước cũng như khối kinh tế tư nhân.

Sự có mặt của Phó Thủ tướng Chính phủ cũng đã cho thấy chính phủ coi trọng lĩnh vực này như thế nào cũng như tầm quan trọng của việc thực hiện lộ trình hợp lý theo các chuẩn mực, tập quán quốc tế.

Ngân hàng Thế giới luôn sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam trong công cuộc tạo thuận lợi thương mại, phát triển logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh thương mại, coi đó là một nội dung trọng tâm xuyên suốt trong chiến lược phát triển và tăng trưởng của mình.  Chúng tôi cũng sẵn sàng cung cấp các kết quả nghiên cứu, hỗ trợ kỹ thuật toàn diện kết hợp với hỗ trợ tài chính trong thời gian nhiều năm nếu cần.

Đến đây, tôi xin chúc toàn thể quý vị có một hội nghị diễn đàn thành công, với những nội dung trao đổi, thảo luận có kết quả.

 

Xin cảm ơn.

Api
Api